Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng quản trị rủi ro tín dụng, tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam — Chỉ nhánh Hoàn Kiếm Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam— Chỉ nhánh Hoàn Kiếm 4 CHUONG 1 iG VAN DE CO BAN VE CHAT LUQNG QUAN TRI RỦI RO TÍN DỤNG TAI NGAN HANG THUONG MAI 1. Rủi ro tín dụng và quan trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại 1. Rải ro tin dung 1. Khái niệm Ngân hàng đóng vai trò là trung gian giữa người cho vay và người đi vay.
Hoạt động của ngân hàng bao gồm huy động vốn, cho vay, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ. có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Do đó, hoạt động của ngân hàng tiềm ân rất nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng theo nhiều quan điểm: Theo ủy ban Basel và giám sát ngân hàng (1999) thi.
rủi ro tín dụng được định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng là rủi ro có nguyên nhân từ sự không chắc chắn về khả năng hoặc độ sẵn sàng của một đối tác thực thi nghĩa vụ trong hợp đồng”: Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN do NHNN Việt Nam ban hành ngày 21/01/2013 “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. “Theo tác giả, rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng xảy ra khi khách hàng vi phạm các nghĩa vụ, không hoàn trả đủ gốc và lãi theo số lượng và thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Phân loại Rui ro tín dụng có thê phân thành hai loại sau: 5 ~ Rủi ro đọng vốn: Đây là rủi ro tín dụng khi người đi vay chậm trễ trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Rủi ro đọng vốn gây ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn của ngân hàng.
- Rui ro mất vốn: Đây là rủi ro tín dụng khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Rủi ro mất vốn làm ting chi phí hoạt động và giảm lợi nhuận của ngân hàng 1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Thực tế cho thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của ngân hàng, bao gồm các nguyên nhân đến từ bên trong và bên ngoài ngân hàng. ~ Nguyên nhân từ bên ngoài + Do sự thay đổi chính sách của Chính phủ: Khi nền kinh tế có sự biến động như lạm phát, thất nghiệp.
thì Chính phủ cần đưa ra những chính sách mới phù hợp với điều kiện hiện hành, giảm thiểu các tác động xấu đến nền kinh tế. Trong đó, chính sách tiền tệ và tài chính thường được các Chính phủ quan tâm và có sự điều chỉnh. Các chính sách vĩ mô này có sự ảnh hưởng nhất định tới rủi ro tín dụng của ngân hàng. + Do môi trường pháp lý: Chính sách pháp luật thiếu đồng bộ có thể dẫn tới rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Hoạt động của ngân hàng có liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Khi hệ thống pháp luật ổn định, môi trường kinh doanh của ngân hàng có nhiều thuận lợi. Ngược lại, khi môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, kinh doanh gặp khó khăn thì người đi vay sẽ sặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng. + Do môi trường tự nhiên: Những biến động của môi trường tự nhiên gây ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, đặc biệt đối với ngành nông nghiệp.
Điều kiện tự nhiên thường xảy ra bắt ngờ ngoài tầm kiểm soát của con người. Do đó, khi có thiên tai, khách hàng cũng như ngân hàng cho vay đối mặt với nguy cơ tôn thất lớn, phương án kinh doanh thất thu không hiệu quả,. khách 6 hang chậm trễ hoặc mắt khả năng trả nợ ngân hàng. + Do môi trường kinh tế xã hội: Hoạt động của doanh nghiệp luôn gắn với môi trường kinh tế xã hội.
Trong mỗi giai đoạn, yếu tố này lại có những, tác động khác nhau đến doanh nghiệp cũng như ngân hàng. Khi kinh tế suy thoái, sản xuất ngưng trệ làm thu nhập bình quân đầu người giảm, ảnh hưởng, đến khả năng trả nợ của khách hàng. Khi lạm phát, việc kinh doanh của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng, thu nhập thực tế giảm xuống gây tác động xấu đến khả năng thu hồi nợ. + Do sự yếu kém của người vay trong hoạt động kinh doanh: Sự yếu kém trong tô chức kinh doanh dẫn đến thất bại của khách hàng và gây ra tổn thất cho ngân hàng, ~ Nguyên nhân từ bên trong ngân hàng; + Do đạo đức, trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng: Nhân viên ngân hàng thiếu trách nhiệm, năng lực chuyên môn yếu, đạo đức kém dẫn tới sai sót trong quá trình thẩm định tín dụng trước, trong và sau khi cho vay, dẫn tới ngân hàng lựa chọn sai khách hàng cho vay, không đánh giá đúng giá trị tài sản bảo đảm.
+ Do chính sách cho vay của ngân hàng: Nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro tín dụng là do chính sách và quy trình cho vay còn lỏng lẻo, thâm định kiểm tra tín dụng chưa phù hợp, phương pháp phân tích khách hàng dé tính toán khả năng trả nợ thiếu chính xác. Do đặt mục tiêu lợi nhuận cao, ngân hàng dành ít nguồn lực cho quá trình thâm định và giám sát khoản vay. Điều này làm giảm chỉ phí hoạt động trong ngắn hạn tuy nhiên sẽ đánh đổi mức rủi ro nợ xấu cao trong tương lại Tóm lại, nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng. Việc nghiên cứu nguyên nhân có ý nghĩa quan trọng giúp ngân hàng đưa ra các biện pháp ngăn chặn nhằm tránh những tổn thất xảy ra đối với hoạt động của ngân hàng 7 1.
Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với Ngân hàng thương mại Rủi ro tín dụng có thể coi là một trong số những nguyên nhân chính dẫn đến sự phá sản của các ngân hàng. Rủi ro tín dụng làm tăng chỉ phí, giảm lợi nhuận của ngân hàng. Khi ngân hàng phát sinh nợ xấu, ngân hàng phải mắt các chỉ phí xử lý nợ có vấn đề như chỉ phí nhân viên, chỉ phí đi lại, gặp gỡ để xử lý nợ, chỉ phí trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu. Ngoài ra, ngân hàng còn phải đánh đổi chỉ phí cơ hội cho vay món mới, từ đó giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng. Các ngân hàng khi gặp rủi ro, kinh doanh kém hiệu quả, uy tín sẽ bị giảm sút trên thị trường. Đây là thiệt hại vô tình mà các ngân hàng không thể đo lường được. Dân chúng lo sợ sẽ bị mắt những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền để đầu tư có lợi hơn ở Ngân hàng khác.
Trong trường hợp khi có quá nhiều người rút tiền tại cùng, một thời điểm, Ngân hàng sẽ không đủ tiền mặt để thanh toán, khách hàng, càng tin rằng Ngân hàng có nguy cơ phá sản và nhanh chóng rút tiền về dẫn đến việc Ngân hàng phá sản thực sự. Rủi ro tín dụng gây ra tôn thất gián tiếp cho các ngân hàng khác. Hoạt động ngân hàng có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế. Nếu hoạt động của một ngân hàng có sự thất thoát và không được khắc phục kịp thời có thể gây ra phản ứng dây chuyển đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế Rủi ro tín dụng không chỉ gây ra thiệt hại cho ngân hàng, hệ thống ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
Do đó, quản trị rủi ro tín dụng là rất cần thiết đối với mỗi ngân hàng thương mại 1. Quản trị rủi ro tin dung 1. Khái niệm Thuật ngữ “quản lý rủi ro” và “quản trị rủi ro” đôi khi được dùng thay 8 thế cho nhau với ý nghĩa chung là các hành động nhằm tối thiểu hóa tôn thất, đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả. Tuy nhiên, hai thuật ngữ này có sự khác biệt về cách tiếp cận và cấp độ quản lý.
Quản lý rủi ro là việc sử dụng các công cụ, kỹ thuật và quy trình liên quan đến các bước tác nghiệp cụ thể nhằm hạn chế tối đa khả năng xảy ra rủi ro. Trên giác độ ngân hang, dé quan lý rủi ro, các ngân hàng có thể né tránh rủi ro thông qua việc lựa chọn khách hàng với các điều kiện khắt khe hơn và các danh mục đầu tư an toàn. Trên giác độ quản lý nhà nước, quản lý rủi ro có thể được thực hiện thông qua các quy định đặt ra nhằm không chế giới hạn hoạt động ngân hàng trong phạm vị được cho là an toàn và hiệu quả Quản trị rủi ro mạnh hơn quản lý rủi ro trên khía cạnh chủ động chấp nhận và kiểm soát rủi ro ở mức độ có thê chấp nhận trong mối tương quan với thu nhập. Quản trị rủi ro là hệ thống các biện pháp xác định và đo lường rủi ro, kiểm soát và báo cáo rủi ro, lựa chọn và chấp nhận mức độ rủi ro để đưa ra các quyết định đảm bảo mục tiêu hiệu quả và an toàn.
Lợi nhuận càng cao thì đi kèm với rủi ro càng lớn. Hoạt động kinh doanh ngân hàng được coi là có lợi nhuận cao, do đó luôn đi kèm với rủi ro Vì vậy, cách tiếp cận của quản lý rủi ro là chỉ lựa chọn những hoạt động kinh doanh ở trạng thái rủi ro không xảy ra là không hoàn toàn phù hợp. Cách tiếp cận của quản trị rủi ro là chủ động chấp nhận rủi ro. Quản trị rủi ro không chỉ là những biện pháp quản lý nhằm hạn chế tối đa rủi ro mà còn bao gồm những, hoạt động nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro như: đo lường, phân tích rủi ro, giám sát, báo cáo rủi ro.
Những ngân hàng được đánh giá có năng lực quản trị rủi ro tốt là những ngân hàng có khả năng đo lường, phân tích chính xác mức độ rủi ro do đó chủ động trong việc tiếp cận và giao dịch với khách hàng, tăng hiệu quả sử dụng vốn và đạt hiệu quả kinh doanh cao ngay cả khi bù đấp những tôn thất rủi ro.