CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG & HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát về DNN&V 1. Khái niệm DNN&V Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế và là tế bào tạo nên cơ thể nền kinh tế của mỗi quốc gia. Để thực hiện mục tiêu và yêu cầu quản lý người ta thường phân chia doanh nghiệp thành các loại: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Tuy nhiên trong thực tế để đơn giản hóa việc phân loại này nhiều nước thường gộp chung doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ, gọi chung là DNN&V. DNN&V là loại hình doanh nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số doanh nghiệp tại nhiều nước. Việc phân loại doanh nghiệp như trên thường căn cứ vào quy mô, trình độ kỹ thuật và mức độ kinh doanh của nó, song tiêu chí phân loại này ở mỗi quốc gia khác nhau cũng khác nhau, ở từng thời điểm khác nhau cũng không giống nhau. Qua tham khảo kinh nghiệm của một số nước, tiêu chí xác định DNN&V thường dựa vào các yếu tố: vốn, lao động, doanh thu.
Tuy nhiên tùy nước có thể chỉ dùng một hay hai hoặc cả ba yếu tố này. Ngoài ra một số nước còn tùy từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà có những quy định khác nhau cho các tiêu chí. Tại Nhật Bản, một nước phát triển ở Châu Á có nền kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao, tiêu chí xác định DNN&V được phân chia theo số lao động và vốn, căn cứ vào lĩnh vực hoạt động cụ thể: 5 Bảng 1.1 Tiêu chí xác định DNN&V tại Nhật Bản Số lao động Vốn Lĩnh vực hoạt động (Triệu Yên) Lĩnh vực sản xuất Không quá 300 Không quá 300 (3 triệu USD) Lĩnh vực bán buôn Không quá 100 Không quá 100 (1 triệu USD) Lĩnh vực bán lẻ Không quá 50 Không quá 50 (0.5 triệu USD) (Nguồn: Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản –(VJCC)) Tại Thái Lan, nước có nền kinh tế thị trường tương tự Việt Nam. Theo quy định của Bộ Công nghiệp Thái Lan, DNN&V được xác định theo quy mô về số lao động và giá trị tài sản cố định.2: Tiêu chí xác định DNN&V tại Thái Lan Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Lĩnh vực hoạt Số Giá trị TSCĐ Số lao Giá trị TSCĐ động lao (triệu Bath) động (triệu Bath) động Lĩnh vực sản xuất <=50 Không quá 50 51-200 Từ 50 đến 200 (1,25- 5 triệu USD) (1,25 triệu USD) Lĩnh vực dịch vụ <=50 Không quá 50 51-200 Từ 50 đến 200 (1,25 triệu USD) (1,25-5 triệu USD) Lĩnh vực bán buôn <=50 Không quá 50 26-50 Từ 50 đến 200 (1,25 triệu USD) (1,25-5 triệu USD) Lĩnh vực bán lẻ <=50 Không quá 30 16-30 Từ 30 đến 60 (0,75 triệu USD) (0,75-1,5 triệu USD) (Nguồn: Ngân hàng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa - Thái Lan) Sự khác nhau về tiêu chí phân loại DNN&V của các nước là hoàn toàn khách quan do các nước có điều kiện, trình độ phát triển kinh tế cũng như các chính sách, biện pháp hỗ trợ và định hướng phát triển DNN&V của riêng 6 mình.
Tiêu chí xác định DNN&V của các quốc gia cũng có thể thay đổi phù hợp với các chính sách hỗ trợ, chiến lược phát triển kinh tế của từng thời kỳ. Ở Việt Nam hiện nay phát triển DNN&V đang là vấn đề được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Nền kinh tế xã hội của đất nước có phồn vinh, thịnh vượng hay không phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của các doanh nghiệp. Trong giai đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường thì DNN&V có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Tiêu chí ở nước ta phân loại DNN&V đã được quy định tạm thời theo văn bản số 681/CP-TN do Chính phủ ban hành ngày 20 tháng 6 năm 1998. Theo quy định tại văn bản này tiêu chí xác định DNN&V là doanh nghiệp có số vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người. Tuy nhiên qua quá trình khảo sát điều tra các doanh nghiệp Chính phủ thấy rằng các tiêu chí đưa ra chưa thực sự hợp lý và chưa phù hợp với sự phát triển. Vì vậy để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các DNN&V, ngày 23/11/2001 Chính phủ đã ra nghị định số 90/2001/NĐ CP.
Trong đó quy định “DNN&V là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của ngành, địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể áp dụng linh hoạt đồng thời hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu trên. Theo định nghĩa trên, các DNN&V ở nước ta gồm có các cơ sở sản xuất kinh doanh nằm trong những tiêu thức và giới hạn tiêu chuẩn quy định sau: - Các doanh nghiệp nhà nước đăng ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp. - Các công ty cổ phần, công ty TNHH và Doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
- Hợp tác xã đăng ký hoạt động theo Luật Hợp tác xã. 7 Như vậy tất cả các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn hai tiêu thức: vốn đăng ký kinh doanh không quá 10 tỷ đồng, lao động trung bình hàng năm không quá 300 người thì đều được coi là DNN&V. Theo cách phân loại này, DNN&V ở nước ta chiếm hơn 90% trong tổng số doanh nghiệp trong nền kinh tế. Việc xác định DNN&V như trên là phù hợp với thực tế khách quan của nước ta với nguồn vốn có hạn, lao động dồi dào, đáp ứng được yêu cầu cấp bách của xã hội là đảm bảo công ăn việc làm, nâng cao mức sống của đại đa số nhân dân lao động và dần đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo.
Đặc điểm của DNN&V Kể từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/2000, khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là khu vực DNN&V trở thành khu vực kinh tế năng động nhất. Với một xuất phát điểm là một nền nông nghiệp kém phát triển, sản xuất nhỏ lẻ là phổ biến nên các DNN&V chiếm một tỷ trọng đáng kể trong các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam. Các DNN&V đã và đang trở thành một lực lượng kinh tế quan trọng, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế và đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước. Hiện nay, nước ta có khoảng trên 500.000 doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể là DNN&V, chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp toàn quốc, đóng góp trên 30% vào tăng trưởng GDP của cả nước, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động và là nhân tố quan trọng đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước.
Đặc điểm phân biệt loại hình DNN&V với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế được thể hiện qua một số tiêu chí sau: - Về loại hình sở hữu: Các DNN&V thuộc các hình thức sở hữu đa dạng (sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp, sở hữu nước ngoài). 8 - Về ngành nghề kinh doanh: Các DNN&V hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Đây cũng là đặc trưng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. - Về vốn: Vốn của các DNN&V không quá 10 tỷ đồng, nên việc chớp thời cơ kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ gặp nhiều khó khăn.
- Về địa bàn hoạt động: Các DNN&V hoạt động năng động trên khắp cả nước, từ thành phố cho đến những vừng sâu, vùng xa - nơi các doanh nghiệp lớn khó hoạt động. - Về quản trị điều hành: Vì là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa nên việc quản trị điều hành của các doanh nghiệp này thường đơn giản và giám sát sát sao hơn so với các doanh nghiệp lớn do giảm các khâu trung gian, quản lý trực tiếp nên công việc được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả. Ngoài những đặc điểm cơ bản trên, các DNN&V Việt Nam còn có những ưu thế và hạn chế nhất định. * Ưu điểm: - DNN&V có tính năng động, linh hoạt, tự do sáng tạo trong kinh doanh.
So với doanh nghiệp lớn, DNN&V năng động hơn trước những thay đổi liên tục của thị trường. DNN&V có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển đổi mặt hàng sản xuất nhanh hơn, tăng giảm lao động dễ dàng vì có thể sử dụng nguồn lao động thời vụ. - Đa phần các DNN&V nước ta hiện nay đều có tính tự chủ cao, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân thường huy động vốn từ gia đình, bạn bè, hoạt động không chịu sự chi phối, quản lý trực tiếp của Nhà nước vì vậy tính tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh thường cao. Quy mô nhỏ và vừa cũng tạo cho các doanh nghiệp này chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
9 - Vốn đầu tư ban dầu của các DNN&V thấp, khả năng thu hồi vốn nhanh, tạo điều kiện tăng tốc độ vòng quay vốn để đầu tư vào công nghệ mới tiên tiến, hiện đại hơn. Đối với ngân hàng, khi đầu tư vào khu vực kinh tế này sẽ tăng nhanh khả năng thu hồi vốn, tiếp tục tái cấp tín dụng cho doanh nghiệp để đầu tư vào chu kỳ kinh doanh tiếp theo, đồng thời đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn của ngân hàng, tăng khả năng sinh lợi. - DNN&V có tỷ suất đầu tư trên lao động thấp nên chúng có hiệu quả tạo việc làm cao hơn. - DNN&V dễ dàng nhanh chóng thay đổi thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại.
Khác với các doanh nghiệp lớn, DNN&V với yêu cầu vốn bổ sung không nhiều và giảm được sự thiệt hại trong việc thay đổi tư bản cố định khi có sự cạnh tranh phải chuyển sang kinh doanh ngành khác nên các DNN&V dễ dàng đổi mới thiết bị công nghệ khi cần thiết. - Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở DNN&V gọn nhẹ linh hoạt, công tác quản lý, điều hành mang tính trực tiếp. Các quyết định được thực hiện nhanh, công tác giám sát được tiến hành chặt chẽ. Chính vì vậy tiết kiệm được chi phí quản lý doanh nghiệp, tận dụng được các cơ hội kinh doanh khi có cơ hội.
- Quan hệ giữa người lao động và người quản lý trong doanh nghiệp khá chặt chẽ, tạo môi trường làm việc tốt. Vì thế người lao động dễ dàng trao đổi và đề xuất các ý tưởng của mình với lãnh đạo.