phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Kiểm toán nội bộ tại các tổ chức BHTG. Chƣơng 2: Thực trạng Kiểm toán nội bộ tại BHTGVN. Chƣơng 3: giải pháp hoàn thiện Kiểm toán nội bộ tại BHTGVN. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1.
Các vấn đề lý luận chung về Kiểm toán nội bộ 1. Khái niệm Kiểm toán nội bộ Hoạt động Kiểm toán nội bộ (KTNB) đƣợc hình thành và phát triển trƣớc tiên ở nƣớc Mỹ, sau này mới phát triển sang các khu vực khác trên thế giới. KTNB xuất hiện từ khá sớm từ trƣớc những năm 1900. Ban đầu trong doanh nghiệp, KTNB mới chỉ dừng ở mức hoạt động tự kiểm tra của các cá nhân với chính hoạt động của mình.
Sau đó, hoạt động KTNB đƣợc mở rộng hơn nữa với việc kiểm tra đánh giá hoạt động của các đơn vị trong toàn hệ thống nhƣ các công ty con, chi nhánh. Các doanh nghiệp ngành đƣờng sắt của Mỹ đƣợc coi là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong áp dụng KTNB. KTNB đƣợc mở rộng sang các lĩnh vực khác của quản lý vào những năm 50 của thế kỷ XX. Các nhà quản lý cao cấp của các doanh nghiệp ngành đƣờng sắt cần có sự bảo đảm là các nhà ga trên toàn liên bang đều phản ánh đúng thu chi.
KTNB làm đƣợc điều này vì họ hiểu rõ cơ chế thu chi của ngành đƣờng sắt trong khi các KTV bên ngoài không thể thực hiện đƣợc một cách đầy đủ vì họ tiến hành kiểm toán cho từng đơn vị riêng lẻ. Viện KTNB (IIA) đƣợc thành lập năm 1941 đánh dấu một bƣớc phát triển của hoạt động KTNB. Đây đƣợc coi là sự xác lập chính thức hoạt động KTNB tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc đƣa ra định nghĩa về KTNB làm cơ sở phát triển hoạt động KTNB có độ trễ tƣơng đối so với tính cấp thiết của việc thực hiện KTNB trong các doanh nghiệp tại Hoa Kỳ vào những năm 1941-1942.
Tháng 6 năm 1978 Chuẩn mực thực hành Kiểm toán chuyên nghiệp cho KTVNB (Standard of Professional Practice of Internal Auditing) đƣợc IIA ban hành. KTNB là một trong ba loại hình kiểm toán khi phân theo bộ máy tổ chức và chủ thể thực hiện. Chính vì vậy, xu hƣớng phát triển và bản chất của KTNB mang những đặc trƣng chung của hai loại 7 hình kiểm toán đó là kiểm toán độc lập và kiểm toán Nhà nƣớc đƣợc hình thành trƣớc đó. Tại Việt Nam, ngày 28/10/1997, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 832-TC/QĐ/CĐKT về quy chế KTNB áp dụng cho các doanh nghiệp, Thông tƣ của Bộ tài chính số 171/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998 hƣớng dẫn thực hiện kiểm toán nội bộ tại doanh nghiệm Nhà nƣớc đƣợc bàn hành và đƣa vào áp dụng thực tế tại nhiều doanh.
Từ những cơ sở pháp lý trên KTNB thực hiện các nhiệm các nhiệm vụ: Kiểm toán, đánh giá, quản lý và giám sát cho tất cả các cơ quan và tổ chức công để đảm bảo hiệu quả hoạt động, quản trị của đơn vị. Đây là những văn bản pháp lý đầu tiên của Việt Nam về KTNB. Tuy nhiên, do nhận thức chƣa đầy đủ và quan điểm thiếu nhất quán, nên ở thời gian đó, Văn bản này đã không đƣợc triển khai một cách nghiêm túc. Trong những năm gần đây, KTNB đã đƣợc quan tâm nhiều hơn, trƣớc những bất cập trong kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính Nhà nƣớc, tài chính doanh nghiệp, việc đòi hỏi yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế thị trƣờng, kiểm soát nội bộ, KTNB đã chính thức đƣa vào quy định.
Cụ thể, Luật Kế toán sửa đổi có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017, lần đầu tiên quy định về KTNB. Mới đây nhất ngày 22/01/2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2019/NĐ-CP quy định về KTNB, trong đó có một số quy định về KTNB trong doanh nghiệp. Có nhiều quan điểm khác nhau về KTNB, có thể kể đến một số quan điểm đƣợc định nghĩa nhƣ sau: theo Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), khái niệm về KTNB: “KTNB là một hoạt động đánh giá được lập ra trong doanh nghiệp như là một dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính phù hợp và hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ” Theo chuẩn mực KTNB của IIA: “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đảm bảo và tư vấn độc lập, khách quan được thiết kế nhằm gia tăng giá trị và giải quyết các hoạt động của tổ chức. KTNB giúp tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra thông qua việc áp dụng các phương pháp có hệ thống và quy tắc nhằm đánh giá và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro, kiểm soát và các quy trình quản trị”.
8 Theo ACCA: “KTNB Là hoạt động kiểm tra và đánh giá được thiết lập trong một tổ chức nhằm mục đích quản trị nội bộ đơn vị. KTNB có chức năng kiểm tra, đánh giá sự phù hợp và hiệu lực của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm toát nội bộ”. Tại Điều 39 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 đƣợc Quốc hội ban hành ngày 20/11/2015 định nghĩa: “KTNB là việc kiểm tra, đánh giá, giám sát tính đầy đủ, thích hợp và hữu hiệu của kiểm soát nội bộ”. Từ những phân tích và nhận định trên, có thể khái quát về KTNB nhƣ sau: “KTNB là một hoạt động độc lập có chức năng kiểm tra, đánh giá, xác nhận và tư vấn nhằm trợ giúp cho nhà quản lý, cải thiện các hoạt động của một tổ chức bằng một cách tiếp cận có hệ thống trong phạm vi tổ chức đó.
Các tổ chức có thể là các đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh vì lợi nhuận nhưng cũng có thể là đơn vị phi lợi nhuận”. Vai trò của KTNB Từ khái niệm về KTNB có thể thấy, KTNB có vai trò ngăn chặn rủi ro, đảm bảo mọi hoạt động của tổ chức tuân thủ theo các quy trình hay quy định nội bộ và các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Cụ thể nhƣ sau: Một là KTNB có vai trò giảm bớt rủi ro trong hoạt động của tổ chức. Mỗi tổ chức hoạt động đều có những rủi ro khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng tổ chức đó.
Do đó, việc xây dựng bộ phận KTNB hiệu quả có thể giúp đơn vị phát hiện và ngăn chặn các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình hoạt động. Hai là KTNB có vai trò bảo đảm độ tin cậy của thông tin. Trong quá trình ra quyết định, nhà quản lý cần sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau nhƣ thông tin tài chính, thông tin phi tài chính, thông tin nội bộ, thông tin từ các đối tƣợng bên ngoài…. Để những thông tin này trở nên phù hợp và đáng tin cậy cho quá trình ra quyết định, việc thiết kế các thủ tục kiểm soát để sàng lọc thông tin là điều cần thiết.
Từ đó, ngƣời quản lý sẽ có những thông tin hữu dụng để sử dụng cho việc ra quyết định của mình. Ba là KTNB giúp đảm bảo tính tuân thủ của các hoạt động trong tổ chức. Bất kỳ tổ chức nào khi hoạt động đều phải thực hiện theo các quy định của pháp luật 9 hiện hành. Ngoài ra, bản thân các tổ chức đều có những quy định, quy chế riêng để đảm bảo việc hoạt động đƣợc diễn ra trơn tru, hiệu quả.
Nếu các quy định này không đƣợc thực hiện, hoạt động của tổ chức có thể sẽ bị gián đoạn hoặc có những ảnh hƣởng nghiêm trọng. Các thủ tục kiểm soát thích hợp là cơ sở để tạo lập, thực hiện và duy trì ý thức chấp hành pháp luật, nội quy và quy chế của tổ chức, xây dựng nền tảng phát triển bền vững của tổ chức đó. Bốn là KTNB góp nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý. Đây là mục tiêu cơ bản của KTNB.
Nhìn chung, các quá trình kiểm soát trong đơn vị đƣợc thiết lập đều nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần thiết các nghiệp vụ gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong tổ chức đó. Do đó KTNB giúp nhà quản lý sẽ đánh giá đƣợc khả năng đạt đƣợc các mục tiêu đã đặt ra, kết hợp với cơ chế giám sát thƣờng xuyên hoặc định kỳ KTNB sẽ giúp tăng hiệu năng của công tác quản lý. Đặc trưng của KTNB KTNB phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của quản lý. Môi trƣờng kinh doanh càng thay đổi thì hoạt động KTNB càng phải hƣớng đến những yêu cầu của quản lý hiện đại.
Nhƣ vậy, có thể xem xét đến các đặc trƣng của kiểm toán nội bộ hiện đại trên các góc độ sau: Mục tiêu: KTNB trƣớc hết là một loại hình kiểm toán nên KTNB cũng hình thành từ yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu quản lý. KTNB có chức năng đo lƣờng, đánh giá các hoạt động của đơn vị kể cả hoạt động kiểm soát. Nhƣ vậy, KTNB đƣợc coi là một loại giám sát tách biệt đƣợc sử để đánh giá các hoạt động trong một tổ chức. Chức năng: Là kiểm tra, đánh giá, xác nhận và tƣ vấn.
Chức năng này sẽ đƣợc cụ thể và chú trọng trong từng loại hình kiểm toán khác nhau, với từng tổ chức khác nhau. Quá trình thực hiện chức năng của KTNB có thể đƣợc thực hiện đối với các hoạt động tài chính và hoạt động phi tài chính. Phương thức thực hiện: KTNB là hoạt động nội kiểm có tính độc lập tƣơng đối trong một tổ chức. Các tổ chức này không chỉ là các đơn vị hoạt động kinh doanh mà có thể là các đơn vị phi lợi nhuận.
Theo xu hƣớng hiện đại, hoạt động 10 KTNB có thể đƣợc thƣợc hiện thông qua thuê ngoài các chuyên gia. Các chuyên gia có thể là ngƣời của doanh nghiệp kiểm toán hoặc Công ty mạng lƣới (là lãnh đạo hoặc nhân viên, bao gồm cả cộng tác viên), hoặc ngƣời bên ngoài có đủ điều kiện về chuyên môn, nghiệp vụ theo Chuẩn mựckiểm toán số 620 (Ban hành kèm theo Thông tƣ 214/2012/TT-BTC ngày 06/12/2012 của Bộ Tài chính). Chủ thể thực hiện: Ngƣời thực hiện KTNB phải có trình độ nghiệp vụ tƣơng xứng, không những am hiểu về kiểm toán mà còn am hiểu các lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ của đơn vị đƣợc kiểm toán. Khách thể: Khách thể của KTNB tƣơng đối đa dạng, có thể là những thực thể kinh tế độc lập, cũng có thể là các đơn vị phụ thuộc.