mở đầu và kết thúc thường không rõ ràng, chẳng hạn: Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn (Xuân Diệu). Các trạng thái tâm lý thường gặp: bâng khuâng, do dự, hồi hộp, lo lắng, chú ý,… 18 d. Các thuộc tính tâm lý Là những hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành và khó mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách, chi phối các quá trình tâm lý và trạng thái tâm lý của con người. Chúng ta có các thuộc tính tâm lý như: Xu hướng - Mặt chỉ đạo của nhân cách; Tính cách - Mặt bản chất của nhân cách; Khí chất - Sắc thái biểu hiện của nhân cách; Năng lực - Khả năng hiện thực của một nhân cách.
Có thể nói, thế giới tâm lý của con người vô cùng đa dạng, phong phú và phức tạp. Có nhiều loại hiện tượng tâm lý, có nhiều mức độ khác nhau và chúng có mối liên hệ mật thiết, biện chứng với nhau. CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ NGƯỜI Các quá Các Các trình trạng thuộc tâm lý thái tâm tính lý tâm lý Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý người [7]. TÂM LÝ HỌC KỸ SƯ 1.
Khái niệm chung a. Khái niệm tâm lý học kỹ sư Tâm lý học kỹ sư là một chuyên ngành của tâm lý học, nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với các hệ thống kỹ thuật và công nghệ (máy móc, thiết bị, phương tiện kỹ thuật,…) b. Nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học kỹ sư Tâm lý học kỹ sư tập trung nghiên cứu sâu về mối liên hệ tồn tại giữa con người và máy móc, thiết bị và công nghệ. Mối liên hệ này chặt chẽ tới 19 mức tạo thành một hệ thống thống nhất “Người - Máy” (Sơ đồ 1.
Và trong hệ thống này, mỗi thành tố lại được coi là một hệ thống riêng biệt chứa đựng các tiểu hệ thống trong nó. Chẳng hạn, hệ thống con người, hệ thống máy móc,. Trong hệ thống Người - Máy, sự hoạt động máy móc phụ thuộc vào hành động của con người, và ngược lại hành động của con người phụ thuộc vào sự hoạt động của máy móc. Do đó, con người cần phải học cách sử dụng máy móc nhưng máy móc cũng cần phải được thiết kế, chế tạo sao cho con người có thể sử dụng nó một cách chính xác, thuận lợi nhất.
Bộ phận điều khiển Con người Máy móc Bộ phận chỉ báo Sơ đồ 1.2: Sự tác động qua lại giữa con người và máy móc trong hệ thống thống nhất [5]. Trong hệ thống “Người - Máy”, con người là khâu chủ đạo. Trong đó, hoạt động của con người rất phức tạp bao gồm 4 giai đoạn: - Giai đoạn nhận những thông tin cơ bản về hoạt động của máy - Giai đoạn đánh giá thông tin. - Giai đoạn ra quyết định về những hành động cần thiết trên cơ sở phân tích các thông tin.
- Giai đoạn thực hiện quyết định. Chúng ta có thể hiểu rõ về hoạt động của con người qua sơ đồ 1. Trong đó, giai đoạn nhận những thông tin về hoạt động của máy móc dựa vào hệ thống các giác quan như: tầm nhìn, thính giác hay xúc giác (cảm nhận về nhiệt độ). Ở giai đoạn đánh giá thông tin và giai đoạn ra quyết định hành động sẽ do hệ thần kinh trung ương đảm nhận.
Ở giai đoạn cuối cùng, thực hiện quyết định do hệ thống các cơ quan vận động đảm nhận như: Cánh tay, chân, toàn thân hay các ngón tay, ngón chân,. cùng nhiều những hệ thống hỗ trợ khác.3: Các hệ thống con (bộ phận) trong hệ thống con người [12]. Như vậy, có nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng tới tốc độ và độ chính xác của các hành động của con người trong hệ thống “Người - Máy”. Nếu xét riêng về hệ thống máy móc, chúng ta nhận thấy, giai đoạn thu nhận thông tin từ hệ thống máy móc phụ thuộc vào các nhân tố quyết định tốc độ tri giác và phụ thuộc vào các yêu cầu về mặt tâm lý được tính đến trong việc chế tạo phương tiện truyền đạt thông tin.
Đó chính là các bộ phận chỉ báo. Còn giai đoạn thực hiện quyết định phụ thuộc vào việc bố trí các bộ phận điều khiển phù hợp với những yêu cầu về mặt tâm lý. Nhiệm vụ của các kỹ sư là thiết kế hệ thống máy móc kỹ thuật phức tạp này. Tuy nhiên, khi thiết kế, người kỹ sư cần phối hợp với các nhà tâm lý học để có được những tài liệu về số lượng và các loại tín hiệu có thể giúp người sử dụng tiếp nhận dễ dàng cũng như cần phải trình bày và phân bố các dụng cụ như thế nào thì tốt hơn để con người có thể làm tròn chức năng kiểm tra và điều khiển được máy móc, thiết bị,.
Do vậy, các nhiệm vụ cụ thể của tâm lý học kỹ sư bao gồm: - Áp dụng các nguyên tắc, các quy luật tâm lý vào việc thiết kế và vận hành các máy móc, thiết bị và công nghệ. - Nghiên cứu cách thức con người tương tác, sử dụng máy móc, thiết bị và công nghệ. - Nghiên cứu cách thức thiết kế và vận hành máy móc, thiết bị, công nghệ phù hợp, an toàn và thân thiện với người sử dụng. 21 - Nghiên cứu nhu cầu của con người đối với máy móc, thiết bị và công nghệ.
- Giảm thiểu các rủi ro, tai nạn khi con người sử dụng máy móc, thiết bị và công nghệ. Tóm lại, tâm lý học kỹ sư nghiên cứu nhằm tạo những điều kiện thuận lợi và sự hài lòng cho con người trong quá trình làm việc với máy móc, thiết bị, để làm giảm nhẹ công sức của con người và nâng cao năng suất lao động. Trường cảm giác và trường vận động • Trường cảm giác: Là phạm vi trong đó con người có thể tiếp nhận thông tin trên các bề mặt của bộ phận chỉ báo (báo hiệu). Trong trường cảm giác chú ý đến các thành phần: Thị giác, thính giác, xúc giác (vận động giác).
Trường vận động: Là toàn bộ phạm vi không gian để con người có thể thực hiện các động tác lao động cần thiết cho kết quả hoạt động của hệ thống Người - Máy.1: Tương tác giữa con người và máy móc/thiết bị trong trường cảm giác và trường vận động [12] 1. Nội dung nghiên cứu của tâm lý học kỹ sư Để tạo điều kiện thuận lợi cho cho con người trong mối quan hệ với máy móc thiết bị, nhằm giảm nhẹ sức lao động và nâng cao năng suất lao động, cũng như sự hài lòng và thoải mái của con người khi sử dụng, tâm lý học kỹ sư tập trung vào ba vấn đề cơ bản sau: - Trong số các công cụ máy móc thiết bị đem ra so sánh thì loại nào là tốt nhất. 22 - Trong các máy móc thiết bị dụng cụ đã có, theo quan điểm tâm lý học thì cái gì là tốt, và cái gì là không tốt đối với con người. - Cần chú ý những yêu cầu nào về tâm lý khi thiết kế máy móc, hệ thống kỹ thuật.
Trong đó, vấn đề thứ 3 luôn khó khăn và phức tạp hơn cả. Nếu không được thực hiện tốt sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến những vấn đề còn lại. Vì vậy trong quá trình thiết kế hệ thống kỹ thuật, người kỹ sư cần tuân thủ theo những kết quả nghiên cứu và yêu cầu về mặt tâm lý đã được nghiên cứu. Bộ phận chỉ báo • Khái niệm bộ phận chỉ báo: Là các phương tiện gián tiếp truyền đạt thông tin từ hệ thống máy móc đến con người, bao gồm: các máy đo, các bóng đèn hiệu, bảng tín hiệu, sơ đồ,… Các bộ phận chỉ báo tác động đến cả 5 giác quan của con người nhưng chủ yếu là thị giác.
Nhiệm vụ của tâm lý học kỹ sư là phải làm cho bộ phận chỉ báo thích ứng với những đặc điểm tri giác của con người. Để làm nhiệm vụ này, các nhà tâm lý học đã nghiên cứu khả năng của các cơ quan cảm giác của con người. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng mỗi loại giác quan đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định. Chẳng hạn, thính giác cho cảm giác liên tục hơn so với thị giác, thị giác có tính lựa chọn và gián đoạn hơn… Trên thực tế, khi thiết kế bộ phận chỉ báo, người kỹ sư cố gắng làm các bộ phận chỉ báo tác động lên các cơ quan phân tích khác nhau.
Tuy nhiên, phần lớn các bộ phận chỉ báo có tác động đến thị giác và thính giác là chủ yếu. Trong số các dụng cụ chỉ báo thị giác, dụng cụ chỉ báo có hình thức bảng số có thang chia độ (có kim chỉ báo) giữ vai trò đặc biệt quan trọng, nội dung thông tin của bộ phận chỉ báo gồm: - Thông tin về mặt số lượng: Cho biết trạng thái của hiện tượng này hay hiện tượng khác, đọc được giá trị thực của một đại lượng, xác định một cách chính xác một đại lượng nào đó tính thành đơn vị. - Thông tin về chất lượng: Báo về mức độ sai lệch của quy trình so với bình thường. - Thông tin kiểm tra: Cho biết cơ chế tương ứng có hoạt động hay không hoạt động và hoạt động của máy có diễn ra bình thường không.
23 - Thông tin về tình huống đột biến, báo động, nguy hiểm thông qua chuông, đèn hiệu,… - Chỉ báo thông tin kiểm tra các thao tác ra lệnh điều chỉnh: kiểm tra các thao tác đóng, mở, dừng lại, khởi động hoặc điều chỉnh (phù hợp với trạng thái hoặc giá trị mong muốn). Việc chọn chỉ báo nào khi thiết kế các phương tiện kỹ thuật là do đặc điểm của thông tin cần cho người thao tác quyết định. Bộ phận chỉ báo được dùng phổ biến nhất là đồng hồ chỉ báo bảng số có thang chia độ và kim chỉ báo. Khi thiết kế, các nhà tâm lý học kỹ sư luôn tính toán để giúp con người đọc nhanh nhất và chính xác nhất về thông tin của máy móc.
• Những yêu cầu về tâm lý khi thiết kế bộ phận chỉ báo Thiết kế bộ phận chỉ báo, người kỹ sư phải chú ý đến những kết quả đã được nghiên cứu về mặt tâm lý sau đây. Độ chính xác và tốc độ của việc đọc các chỉ báo phụ thuộc vào hình dạng của thang chia độ Trên bộ phận chỉ báo, mặt số phải thiết kế sao cho người sử dụng đọc chính xác các con số và đọc với tốc độ nhanh nhất. Các nhà tâm lý học đưa ra các hình dạng của bảng số có thang chia độ và kim chỉ báo để so sánh. Theo đó, độ chính xác của việc đọc các hình dạng mặt số như Hình 1.