Chương 1. Tổng quan nghiên cứu Chương này giới thiệu lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, bố cục của nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan Chương này trình bày các khái niệm, đặc điểm, phân loại tâm lý đám đông và những nguyên nhân tạo nên tâm lý đám đông trên thị trường chứng khoán. Phương pháp nghiên cứu 7 Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo các biến nghiên cứu và các bước phân tích dữ liệu.
Phần thiết kế nghiên cứu trình bày các nội dung liên quan đến giai đoạn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu. Trên cơ sở đó, khoá luận sẽ xây dựng mô hình đề xuất để kiểm định tâm lý đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam và các giả thiết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày biểu hiện của tâm lý đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn trước và sau khủng hoảng 2008. Tiếp theo đó kết quả nghiên cứu kiểm định bằng các phương pháp hồi quy sẽ được trình bày cụ thể trong chương này Chương 5.
Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày về các kết luận của nghiên cứu, một số đề xuất tham khảo, đồng thời nêu lên các đóng góp và hạn chế của đề tài, cùng định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN So với những lý thuyết tài chính truyền thống khác lý thuyết tài chính hành vi được nghiên cứu và phát triển khá trễ. Năm 1890, nhà tâm lý học người Pháp Gabreil Tarde bắt đầu thực hiện các nghiên cứu đưa tâm lý vào kinh tế học. Tuy nhiên một thời gian rất lâu sau, lý thuyết tài chính hành vi mới được chấp nhận và nghiên cứu rộng rãi.
Một trong những nghiên cứu đặt nền móng cho tài chính hành vi là nghiên cứu của Kahneman &Tversky (1970) về lý thuyết triển vọng. Và cũng từ đó lý thuyết tài chính hành vi tạo ra sự đối lập lớn đối với lý thuyết thị trường hiệu quả. Trong khi thị trường hiệu quả cho rằng thị trường luôn tồn tại một cơ chế để giúp thị trường đi về trạng thái cân bằng và hợp lý, đó là khả năng kinh doanh chênh lệch giá. Khi một tài sản tài sản tài chính được định không đúng với giá trị thực của nó, sẽ có những người mua những tài sản được định giá thấp và bán tài sản được định giá cao.
Chính điều này luôn làm thị trường điều chỉnh về mức cân bằng và hiệu quả. Tuy nhiên, lý thuyết tài chính hành vi nói rằng không phải con người lúc nào cũng là duy lý, đôi lúc họ sẽ không duy lý và hành động bất hợp lý khiến thị trường trở nên không còn hiệu quả.1 Bối cảnh ra đời của tài chính học hành vi 2.1 Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng được đưa ra bởi 2 nhà nghiên cứu là John Von Neumann và Oskar Morgenstern nhằm mô tả những hành vi hợp lý khi con người phải đối mặt với sự không chắc chắn với những giả định sau: - Con người có những sự ưa thích hợp lý giữa các kết quả có thể có hoặc những trạng thái tự nhiên. - Con người tối đa hoá mức hữu dụng và doanh nghiệp thì tối đa hoá lợi nhuận. - Con người đưa ra những quyết định độc lập dựa trên thông tin có liên quan.
Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng cho rằng con người nên hành động theo cách cụ thể khi phải đối mặt với những quyết định quan trọng khi không có sự chắc chắn. Tuy 9 nhiên lý thuyết này được đưa ra để giải quyết rủi ro chứ không phải sự không chắc chắn nhưng 1 do 2 khái niệm rủi ro và sự không chắc chắn không được phân biệt rõ ràng nên dẫn đến sự trùng lặp như trên. Rủi ro là sự việc được biết trước và có thể đo lường được trong khi sự không chắc chắn lại không thể tính toán hay đo lường được.2 Lý thuyết thị trường hiệu quả Năm 1960, lý thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi giáo sư Eugene Fama dựa trên 3 giả định quan trọng sau: - Các chủ thể khi tham gia và thị trường phải tối đa hoá lợi nhuận của mình bằng cách tiến hành phân tích, định giá một cách độc lập và kết quả không phụ thuộc và người khác. - Thông tin của chứng khoán đó phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên độc lập và không thể dự đoán trước được.
- Giá chứng khoán phải được điều chỉnh tức thời để phản ảnh những thông tin đó. Theo Fama định nghĩa 3 dạng của thị trường hiệu quả: - Thứ nhất thị trường hiệu quả dạng yếu (weak form), giá cả phản ánh thông tin có tỷ suất sinh lời trong quá khứ do đó không có mối liên hệ nào với tỷ suất lợi nhuận trong tương lai. - Thứ hai thị trường hiệu quả dạng vừa (semi-strong form), giá cả phản ánh với tất cả các thông tin đại chúng được công bố như thông tin về báo cáo kết quả kinh doanh, các tin tức được công bố… - Thứ ba thị trường hiệu quả dạng mạnh, giá cả không chỉ phản ánh nhanh chóng những thông tin được công bố mà còn phản ánh những thông tin nội bộ chưa được công khai.2 Lý thuyết triển vọng Lý thuyết triển vọng được phát triển từ lý thuyết hữu dụng kỳ vọng và nghiên cứu để giải thích hành vi ra quyết định của con người. Lý thuyết triển vọng lần đầu tiên đưa ra bởi 2 nhà nghiên cứu là Kahneman và Tversky (1979) trong bài viết “Prospect Theory: 1 An analysis of decision under risk”.
Kahneman và Tversky đã đưa ra những vi phạm của lý thuyết hữu dụng kỳ vọng trong việc ra quyết định. Trước khi lý thuyết triển vọng ra đời, các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển vận dụng lý thuyết hữu dụng kỳ vọng cho rằng con người là duy lý khi đưa ra quyết định của mình và các quyết định đều hướng đến việc tối đa hoá lợi ích của người ra quyết định. Tuy nhiên theo Kahneman và Tversky cho rằng quyết định của con người phụ thuộc rất nhiều vào cảm xúc và tâm lý chi phối. Do đó quyết định của con người đôi khi là quyết định không tối ưu.
Lý thuyết triển vọng cho rằng: thông thường con người có khuynh hướng e ngại rủi ro, nhưng trong một số trường hợp phải chịu mất mát con người ta thường tìm kiếm, liều lĩnh với rủi ro. Việc đánh giá triển vọng của con người phụ thuộc vào việc được và mất so với một điểm ở trạng thái hiện tại. Mất mát sẽ đem lại hậu quả về tâm lý nặng nề hơn so niềm vui khi có được lợi nhuận, mặc dù giá trị mất mát và có được là như nhau. Các điều kiện tồn tại tài chính hành vi - Tính toán bất hợp lý Nhà đầu tư có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyết định này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng.
Cũng từ đó mà họ đưa ra các quyết định tưởng chứng là hợp lý, mà thật ra lại sai lầm. Sử dụng tính toán bất hợp lý và định nghĩa hẹp, chúng ta có thể giải thích các hiện tượng như sợ thua lỗ, lựa chọn nghịch với sở thích và hiệu ứng phân bổ tài khoản, thể hiện cơ bản ở chỗ người ta sẵn sàng thực hiện ngay những lệnh mang lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn không thực hiện lệnh dừng lỗ khi xuất hiện những khoản lỗ nhỏ. Hiệu ứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng sự tự lừa dối, sợ rằng nếu bán mà bị lỗ thì sẽ cảm thấy bản thân có quyết định đầu tư kém, hay sự tiếc nuối, tức lỡ bán rồi mà giá lên thì sao? Hiệu ứng phân bổ tài khoản cũng giúp lý giải một phần vì sao trong những thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá tại các thị trường lớn. - Sự tự tin thái quá 1 Nhà đầu tư thường cho rằng, bản thân họ tốt hơn những người khác và thường phóng đại những hiểu biết của mình.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với các nhà đầu tư quá tự tin, họ giao dịch nhiều hơn những nhà đầu tư khác. Trạng thái quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó khiến các nhà đầu tư sẵn sàng về quan điểm của họ mà bỏ qua việc tham khảo thêm từ những nhà đầu tư khác. Tự tin thái quá cũng làm tăng sự không đồng nhất trong niềm tin của nhà đầu tư quá tự tin luôn quan niệm hành động của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu tư khác cảm nhận. nhiều khi những nhà đầu tư nhà đầu tư.
quá tự tin hiểu sai giá trị thông tin mà họ nhận được, không những tính xác thực mà còn sai cả ý nghĩa của thông tin. Tính tự tin thái quá mà một người có càng lớn thì rủi ro càng cao, danh mục đầu tư rất ít đa dạng hóa và chỉ tập trung vào những cổ phiếu mà họ tin tưởng. - Tính bảo thủ Khi điều kiện kinh tế thay đổi mọi người có xu hướng chậm phản ứng với thay đổi đó, họ gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một thời kỳ dài hạn trước đó. Nghĩa là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng, đây chỉ là tạm thời, dài hạn nền kinh tế vẫn đi lên, mà không nhận thấy có thể tin đó là tín hiệu cho một chu kỳ suy thoái dài hạn đã bắt đầu.
Sau một khoảng thời gian nhận thấy tình hình vẫn chưa cải thiện thì mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu. Kết quả, thị trường lại biến động bất thường. - Phụ thuộc vào kinh nghiệm Những kinh nghiệm, quy tắc học được thường giúp người ta đưa ra quyết định nhanh và dễ dàng hơn rất nhiều. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nếu phụ thuộc quá nhiều vào các quy tắc đôi khi lại dẫn đến sai lầm, khi mà các điều kiện bên ngoài thường xuyên thay đổi.
Đặc biệt, nhà đâu tư thường đề cao hiệu quả của những quy tắc đơn giản, gần gũi và dễ nhớ, kiểu hiệu ứng. Nguyên lý này giúp giải thích tại sao thị trường đôi khi có những hành xử một cách vô thức. - Hiệu ứng ngược vị thế 1 Hiệu ứng vị thế ngược : Nhà đầu tư có xu hướng bán những khoảng lời quá sớm và giữ những khoản lỗ quá lâu.