CHƯƠNG 1 Chương này đã giới thiệu sơ lược về bố cục của bài nghiên cứu, các vấn đề cũng như phương nghiên cứu và đưa ra ý nghĩa khoa học và thực tiễn để người đọc dễ dàng nắm bắt trước khi thực sự bước vào bài nghiên cứu ở chương 2. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Chương 2 giải thích các khái niệm về cơ sở lý thuyết của cổ phiếu, dao động của giá cổ phiếu và trình bày lý thuyết thị trường hiệu quả. Bên cạnh đó trình bày một số bài nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước.1 Khái niệm thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi phát hành, trao đổi và mua bán chứng khoán trung và dài hạn, các chứng khoán được phát hành để huy động vốn cho các công ty và nhà nước, nhưng những người đầu tư lâu dài luôn hiểu rằng thị trường chứng khoán tương tự chợ truyền thống hay siêu thị cũng có người mua, người bán và đủ loại hàng hóa. Sẽ không thể mua hoặc bán một quả táo hoặc bàn chải đánh răng đã qua sử dụng trên thị trường.
Như trong chợ hay siêu thị, hàng hóa có thể được nhận và mang về nhà. Chỉ có các sản phẩm ảo được giao dịch trên sàn giao dịch (Nguồn: Wikipedia). Cụ thể, thị trường chứng khoán được chia thành hai loại là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp: Thị trường sơ cấp là nơi cổ phiếu của công ty được phát hành lần đầu nhằm thu hút một nguồn vốn đầu tư, bằng cách này họ có thể huy động được một số vốn trong thị trường vốn. Hầu hết người mua trên thị trường sơ cấp là các tổ chức lớn hoặc quỹ tương hỗ.
(Nguồn: Wikipedia) Thị trường thứ cấp, nơi các cổ phiếu được mua và bán lại sau khi được phát hành trên thị trường sơ cấp. Người mua trên thị trường sơ cấp giao dịch cho các nhà đầu tư chứng khoán khác trên thị trường. Do đó, không có tiền mới nào ra đời mà chỉ có sự chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán giữa người mua và người bán. Đây cũng là nơi các nhà đầu tư cá nhân có thể tham gia kinh doanh chứng khoán.
(Nguồn: Wikipedia) 5 Các chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán Nguồn: sites.com/site/huantranvn2 2.2 Khái niệm đầu tư tài chính Đầu tư tài chính là hoạt động dùng vốn để đầu tư, mua sắm các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu kho bạc… để thu lợi nhuận khi bán. Ngoài ra, đầu tư tài chính còn là hoạt động đầu tư vốn vào công ty dưới hình thức góp vốn liên doanh hoặc mua cổ phần với tư cách là thành viên tham gia quản lý và điều hành công ty liên doanh, công ty đại chúng. Các nhà đầu tư tài chính mua và bán nhằm mục đích kiếm lời, nhưng hiếm khi nhằm mục đích tăng giá trị thực của công ty mà họ đang đầu tư. (Nguồn: Wikipedia) Tùy thuộc vào tài sản và thời hạn, khoản đầu tư được chia thành hai loại: Đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn.
Đầu tư ngắn hạn là hình thức đầu tư vào cổ phiếu, thư từ, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi,. hoặc góp vốn bằng tiền hoặc hiện vật với thời gian thu hồi vốn dưới 1 năm. Việc đầu tư sẽ giúp nhà đầu tư lấy lại vốn, luân chuyển dòng tiền, sinh lời nhanh chóng. Đầu tư dài hạn là quá trình bỏ vốn đầu tư trong hiện tại nhằm mục đích thu được lợi nhuận lâu dài trong tương lai.3 Cổ phiếu Cổ phiếu là chứng chỉ tiền tệ mà công ty cổ phần phát hành hoặc bút ký xác nhận quyền sở hữu mà các nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành, đồng thời nó còn xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư khi tham gia vào hoạt động kinh doanh của công ty.
(Nguồn: Wikipedia) Các nhà đầu tư nắm cổ phiếu trở thành cổ đông cũng như trở thành chủ sở hữu của công ty mà mình mua cổ phiếu. (Nguồn: Wikipedia) Các công ty cổ phần thường phát hành dưới dạng hai loại cổ phiếu: Cổ phiếu phổ thông: Là loại cổ phiếu phổ biến nhất trong một công ty. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu đó có quyền tự do chuyển nhượng và biểu quyết các quyết định của công ty tại các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông và nhận cổ tức căn cứ vào kết quả kinh doanh và số lượng cổ phiếu mà họ sở hữu. (Nguồn: Wikipedia) Cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông có quyền: Tự do phân phối.
Các cổ đông có quyền biểu quyết các quyết định của công ty tại Đại hội đồng. Có quyền được hưởng cổ tức dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như giá trị cổ phiếu mà các cổ đông đang nắm giữ. Cổ phiếu ưu đãi: Là loại chứng khoán có đặc điểm tương tự như cổ phiếu phổ thông, người nắm giữ loại cổ phiếu đó đồng thời là cổ đông trong công ty sẽ có một số lợi ích liên quan đến cổ tức, quyền biểu quyết hoặc quyền ưu tiên hơn đối với cổ phiếu phổ thông trong việc thanh lý tài sản trong trường hợp công ty mất khả năng thanh toán. 7 Cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi có các quyền và những hạn chế, chẳng hạn như: Thu nhập từ lợi tức ổn định không biến động như cổ phiếu thường Không được phép bầu cử hoặc ứng cử Được ưu tiên chia cổ tức.
Một khi doanh nghiệp phá sản, cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi sẽ là những người được doanh nghiệp trả tiền đầu tiên và sau đó là các cổ đông phổ thông.4 Dao động của giá cổ phiếu Định nghĩa biên độ giao động giá Biên độ dao động giá là khoảng dao động giá được cho phép của giá chứng khoán quy định trong ngày giao dịch. Ở Việt Nam, biến động giá được quy định bởi sở giao dịch chứng khoán và được sự chấp thuận của Ủy ban điều tiết, trong trường hợp cần thiết Ủy ban chứng khoán sẽ ra quyết định điều chỉnh biên độ giá nếu cần thiết. Phạm vi biến động giá này không được quy định bởi các nhà giao dịch hoặc sàn giao dịch, mà do chính các cơ quan nhà nước quy định. Như vậy có thể thấy được thấy lĩnh vực này được các cơ quan nhà nước quan tâm, chú ý và quản lí rất nhiều.
Vì chúng ta biết rằng kinh doanh chứng khoán là một trong những lĩnh vực giá trị nhất của nền kinh tế. Vì vậy, ngành này cần được điều tiết bởi nhà nước để tránh nhiễu loạn thị trường. (Nguồn: Wikipedia) Cách xác định Phạm vi dao động giá được tính bằng cách cộng hoặc trừ một tỷ lệ phần trăm từ giá tham chiếu của chứng khoán. Đối với chứng khoán giao dịch bình thường, giá tham chiếu được xác định là giá đóng cửa của ngày giao dịch trước đó.
Ví dụ, giới hạn giá dao động hàng ngày của Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc là (± 6%) giá đóng cửa của ngày giao dịch trước đó. Hiện tại ở Việt Nam, Ủy ban Điều hành Chứng khoán Nhà nước quy định mức độ mà giá được phép dao động trong ngày được áp dụng cho các chứng khoán trên các Sàn như Sàn Hồ Chí Minh quy định là 7%, Sàn Hà Nội là 10%, Sàn UpCOM là 15%.(Nguồn: Wikipedia) 8 Ý nghĩa của biên độ dao động giá Khi nhà giao dịch đặt lệnh, giá giao dịch trong phiên phải nằm trong khoảng giá của giá cao nhất hay thấp nhất được quy định trong biên độ dao động giá mà Ủy ban Điều hành Chứng khoán Nhà nước công bố và quy định, nếu giá vượt quá giới hạn mức giá cao nhất hoặc giá thấp nhất thì đơn đặt hàng được coi là không hợp lệ. (Nguồn: Wikipedia) Liên hệ thực tiễn Một số học giả kinh tế bày tỏ quan điểm việc điều tiết dao động giá có thể ngăn cản giá chứng khoán đạt đến trạng thái cân bằng một cách hiệu quả, điều này gây nhiễu loạn ảnh hưởng sâu sắc đến cung và cầu thị trường. Mặc dù việc ứng dụng phương pháp dao động giá vẫn còn gây tranh cãi, nhưng hiện nay nó đã được nhiều sở giao dịch chứng khoán trên thế giới chấp nhận như một công cụ hữu hiệu và hiệu quả để đảm bảo sự hoạt động ổn định của thị trường.5 Lý thuyết thị trường hiệu quả Lý thuyết thị trường hiệu quả được phát triển bởi Giáo sư Eugene F.
Fama, nghiên cứu đã sữ dụng dữ liệu từ năm 1946 -1966 của 261 doanh nghiệp lớn trong các ngành công nghiệp quan trọng ở Mỹ. Lý thuyết thị trường hiệu quả EMH (Fama, 1970), cho rằng tất cả thông tin trên thị trường ảnh hưởng đến sự biến động giá cổ phiếu điều được phản ánh vào giá cổ phiếu. Theo đó, cổ phiếu luôn được luân chuyển theo giá trị hợp lý của nó trên thị trường vốn, khiến các nhà đầu tư không thể mua cổ phiếu bị định giá thấp hoặc bán cổ phiếu với giá bị thổi phồng. Như vậy, không thể vượt trội hơn so với thị trường thông qua việc chọn hoặc xác định thời điểm cổ phiếu của các chuyên gia và cách duy nhất để các nhà giao dịch đạt được lợi nhuận cao hơn là mua đầu tư mạo hiểm.2 Các nghiên cứu trước Nghiên cứu nước ngoài.
9 Mục tiêu nghiên cứu của Hooi, Albaity & Ibrahimy (2015) là xem xét mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu trong thị trường Malaysia. Mẫu dữ liệu gồm 319 công ty từ sàn giao dịch chứng khoán Kuala Lumpur đã được nghiên cứu để tìm ra mối quan hệ giữa biến động giá cổ phiếu và các công cụ chính sách cổ tức. Lợi tức cổ tức và chi trả cổ tức được phát hiện có liên quan tiêu cực đến sự biến động giá cổ phiếu và có ý nghĩa thống kê. Quy mô công ty và giá cổ phiếu là liên quan tiêu cực.
Mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa biến động thu nhập và nợ dài hạn đối với biến động giá được xác định là giả thuyết. Tuy nhiên, không có mối quan hệ đáng kể nào được tìm thấy giữa tăng trưởng tài sản và sự biến động giá cả trên thị trường Malaysia. Nghiên cứu của Allen & Rachim (1996) về chính sách cổ tức và sự biến động giá cổ phiếu bao gồm một khía cạnh của chính sách cổ tức: Mối liên hệ giữa chính sách cổ tức và rủi ro giá cổ phiếu. Nghiên cứu gồm 173 công ty niêm yết sàn giao dich chứng khoán nước Úc được kiểm tra trong khoảng thời gian từ năm 1972 đến năm 1985.
Công trình có phân tích hồi quy về mối quan hệ giữa biến động giá cổ phiếu và chính sách cổ tức.