Chương 1: Giới thiệu về đề tài. Trong chương này, tác giả cho thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của đề tài. Chương 2: Các nghiên cứu trước đây. Trong chương này, tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước đây về các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Ở chương này, tác giả trình bày mô hình, phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu. Các nội dung được trình bày ở chương này làm cơ sở cho các phân tích tiếp theo ở Chương 4. Chương 4: Nghiên cứu tác động của các nhân tố đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trong chương này, tác giả đưa ra kết quả và phân tích kết quả về tác động của các nhân tố rủi ro thị trường, quy mô công ty, tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường, xu hướng và thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tác giả tổng kết lại vấn đề nghiên cứu và các hạn chế của bài nghiên cứu. 123doc -4- CHƯƠNG 2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về định giá tài sản, các nhân tố tác động đến biến động của giá tài sản. Từ đó, chúng ta có thể dự báo được giá tài sản trong tương lai và ra quyết định đầu tư. Đầu tiên phải kể đến là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) giải thích mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi của tài sản. Năm 1964, CAPM được William Sharp phát triển dựa trên ý tưởng không phải tất cả rủi ro đều ảnh hưởng đến giá tài sản và có loại rủi ro có thể được đa dạng hóa và giảm thiểu bằng cách đưa một tài sản vào danh mục đầu tư.
CAPM phân tích rủi ro của một danh mục đầu tư bằng rủi ro hệ thống và rủi ro không hệ thống. Rủi ro hệ thống là rủi ro thuộc về thị trường, không có nhà đầu tư nào có thể tránh khỏi cho dù đã đa dạng hoá được danh mục đầu tư, rủi ro không hệ thống là rủi ro có thể đa dạng hoá được, có thể được loại bỏ hoàn toàn. Theo CAPM , tỷ suất sinh lợi của một chứng khoán sẽ bằng tỷ suất sinh lợi phi rủi ro cộng beta chứng khoán nhân với chênh lệch giữa tỷ suất sinh lợi thị trường và tỷ suất sinh lợi phi rủi ro. Phương trình của rủi ro và tỷ suất sinh lợi: R = Rf + β * (Rm - Rf) Trong đó: R: tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư.
Rf: tỷ suất sinh lợi phi rủi ro. Rm: tỷ suất sinh lợi của danh mục toàn thị trường. β: hệ số góc của phương trình hồi quy. 123doc -5- CAPM cho rằng hệ số Beta là thước đo rủi ro có liên quan đối với việc đầu tư, và vì vậy, có tồn tại tương quan thuận chiều giữa Beta và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng.
Mặt khác, tỷ suất sinh lợi kỳ vọng có tương quan thuận chiều và tuyến tính với Beta thị trường và rủi ro hệ thống. Hệ số Beta này được chấp nhận rộng rãi trong việc giải thích độ nhạy cảm của tỷ suất sinh lợi tài sản khi thị trường thay đổi. Kế thừa kết quả nghiên cứu của Sharp (1964), Fama – French cho rằng, rủi ro thị trường không thể giải thích hoàn toàn sự biến động của tỷ suất sinh lợi. Năm 1993, Fama French tiến hành một nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy chuỗi thời gian với dữ liệu trên thị trường chứng khoán Mỹ trong thời gian từ năm 1963 đến 1991.
Tác giả nghiên cứu tác động của các nhân tố rủi ro như nhân tố thị trường, quy mô công ty, tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường, kỳ hạn và rủi ro vỡ nợ của thị trường trái phiếu đến sự biến động tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và trái phiếu. Tác giả xây dựng sáu danh mục đầu tư dựa vào giá trị vốn hóa thị trường của cổ phiếu và tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường. Một là, S/L: danh mục bao gồm các cổ phiếu thuộc nhóm quy mô nhỏ và có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường thấp. Hai là, S/M: danh mục bao gồm các cổ phiếu thuộc nhóm quy mô nhỏ và có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường trung bình.
Ba là, S/H: danh mục bao gồm các cổ phiếu thuộc nhóm quy mô nhỏ và có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường cao. Bốn là, B/L: danh mục bao gồm các cổ phiếu thuộc nhóm quy mô lớn và có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường thấp. Năm là, B/M: danh mục bao gồm các cổ phiếu thuộc nhóm quy mô lớn và có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường trung bình. Sáu là, B/H: danh mục bao gồm các cổ phiếu thuộc nhóm quy mô lớn và có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường cao.
123doc -6- Sau đó, tác giả xây dựng nhân tố SMB để mô phỏng nhân tố rủi ro liên quan đến quy mô công ty và nhân tố HML để mô phỏng nhân tố rủi ro liên quan đến tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường. Tác giả tiến hành chạy hồi quy tỷ suất sinh lợi của 25 danh mục phân nhóm theo giá trị vốn hóa thị trường và tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường. Kết quả chạy hồi quy cho thấy mô hình ba nhân tố giải thích tốt nhất sự biến động của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Mô hình ba nhân tố như sau: Ri - Rf = ai + βi * ( Rm - Rf ) + si * SMB + hi * HML + εi Trong đó: Ri: tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư i.
Rf: tỷ suất sinh lợi phi rủi ro. Rm: tỷ suất sinh lợi của danh mục toàn thị trường. Hệ số β trong mô hình ba nhân tố - βi cũng tương tự như β truyền thống trong mô hình CAPM nhưng có giá trị nhỏ hơn, vì có thêm hai nhân tố đã được thêm vào và mỗi nhân tố này đều có hệ số hồi quy riêng để giải thích phần nào tỷ suất sinh lợi của danh mục. SMB là bình quân chênh lệch trong quá khứ của tỷ suất sinh lợi danh mục chứng khoán công ty có quy mô nhỏ so với danh mục chứng khoán công ty có quy mô lớn.
HML là bình quân chênh lệch trong quá khứ của tỷ suất sinh lợi danh mục chứng khoán của công ty có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường cao và công ty có tỷ lệ này thấp. βi, si, hi lần lượt là các hệ số hồi quy cho nhân tố phần bù rủi ro cho danh mục chứng khoán thị trường, nhân tố quy mô - SMB và nhân tố nhân tố giá trị - HML. Kết quả nghiên cứu của tác giả như sau: Thứ nhất, trong các nhân tố tiến hành nghiên cứu, ba nhân tố là thị trường, quy mô công ty, tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường có tác động mạnh nhất đến sự biến 123doc -7- động của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Các nhân tố còn lại đều không có ý nghĩa trong việc giải thích biến động tỷ suất sinh lợi cổ phiếu.
Thứ hai, mối quan hệ giữa quy mô và tỷ suất sinh lợi trung bình là ngược chiều, và một mối tương quan cùng chiều mạnh hơn của tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường với tỷ suất sinh lợi trung bình. Với cùng một nhóm danh mục tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (ngoại trừ danh mục có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường thấp nhất), tỷ suất sinh lợi giảm khi quy mô tăng, điều này cũng có nghĩa là hệ số của nhân tố quy mô SMB là dương. Với các danh mục cùng quy mô, tỷ suất sinh lợi trung bình có xu hướng tăng cùng với tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường, tức hệ số của nhân tố giá trị sổ sách trên giá trị thị trường HML là dương. Thứ ba, tỷ suất sinh lợi cao là phần thưởng cho việc chấp nhận một tỷ lệ rủi ro cao.
Fama-French giải thích hệ số của nhân tố quy mô SMB dương là do những doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường chứa đựng rủi ro cao, hoạt động kém hiệu quả hơn, chi phí đại diện cao hơn, do đó nhà đầu tư đòi hòi một phần bù rủi ro lớn hơn. Những công ty có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường cao thường rơi vào kiệt quệ tài chính nhiều hơn, gây rủi ro cho nhà đầu tư, do đó nhà đầu tư được phần bù giá trị dương. Kế thừa những kết quả của Fama – French (1993), năm 1997, Carhart đã xây dựng một nhân tố có liên quan đến tác động của xu hướng dựa trên tỷ suất sinh lợi quá khứ một năm và đề xuất mô hình bốn nhân tố. Tác giả sử dụng mẫu bao gồm dữ liệu tháng của tất cả những quỹ tương hỗ từ tháng 01/1962 đến 12/1993 tổng cộng 1892 quỹ và 16.
Mô hình bốn nhân tố bao gồm 3 nhân tố của Fama French (1993) và thêm một nhân tố nữa là nhân tố xu hướng trong một năm. Kết quả nghiên cứu như sau: Thứ nhất, mô hình bốn nhân tố có thể giải thích được biến động tỷ suất sinh lợi ở những danh mục cổ phiếu được sắp xếp dựa theo tỷ suất sinh lợi trong năm vừa qua. Hệ số hồi quy của nhân tố xu hướng dương đối với danh mục có tỷ suất sinh lợi năm trước cao và âm đối với 2 danh mục có tỷ suất sinh lợi năm trước thấp nhất. 123doc -8- Thứ hai, tác giả cho rằng không nên đầu tư vào những quỹ đầu tư có tỷ suất sinh lợi âm thường xuyên, những quỹ đầu tư có tỷ suất sinh lợi cao năm trước sẽ có tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi kỳ vọng trung bình, nhưng những năm sau đó thì chưa chắc.
Cũng vào năm 2007, Lars Petter Lunden đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố trong mô hình Fama – French gồm nhân tố rủi ro thị trường, quy mô công ty và tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường trong khoản thời gian từ 1995 đến năm 2005 ở thị trường chứng khoán Brazil. Kết quả nghiên cứu cũng tương đồng với kết quả của Fama – French ở Mỹ.