CHƯƠNG 1: TỐNG QƯAN TÀI LIỆU 1. Vị thành niên Theo Tổ chức Y tế thế giới thi tuổi vị thành niên là giai đoạn từ 10-19 tuổi. Căn cứ vào mức độ phát triển thê chất, tâm lý xã hội và nhu cầu, tuổi VTN được chia làm ba giai đoạn nhỏ hơn: - Giai đoạn đầu tuổi VTN (10-13 tuồi) - Giai đoạn giữa tuổi VTN (14-16 tuổi) - Giai đoạn cuối tuổi VTN (17-19 tuổi) Đây là một giai đoạn đặc biệt cùa đời người, giai đoạn này được đánh dấu bằng những thay đồi đồng loạt và xen lẫn nhau từ giàn đơn sang phức tạp bao gồm: sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh về tâm lý và các quan hệ xã hội, chuẩn bị cho một cơ thể trưởng thành cả về thể chất và tâm lý xã hội [9], 1. Sức khỏe sinh sản Theo định nghĩa cùa To chức Y tế thế giới (WHO),sức khỏe sinh sản là tình trạng khỏe mạnh ve the chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh hay khuyết tật của hệ cơ quan sinh sàn [14].
Sức khỏe tình dục WHO năm 1975 đề cập khái niệm “Sức khoẻ tình dục là sự hoà hợp thành một hệ thống nhất từ nhiều mặt của cơ the, càm xúc, trí tuệ và xã hội của đời sổng tình dục, theo hướng tích cực, đề cao nhân cách, giao tiếp và tình yêu. Mỗi người có quyền tiếp nhận thông tin về tình dục và quan tâm đến mối quan hệ tình dục khoái cảm cũng như sự sinh sản”. Năm 2006, WHO sừ đụng khái niệm “Sức khỏe tình dục là trạng thái thoải mái về thể chất, tình cảm, tinh thần, và xã hội liên quan tới hoạt động tình dục và không chỉ đơn thuần là không có bệnh, rối loạn chức năng hay thương tật” [18]. Chưưng trình nâng cao sức khỏe sinh sản cho học sinh Bao gồm các chương trình/hoạt động nhằm hồ trợ học sinh trong việc tiếp cận thông tin; tăng cường kỹ năng; tư vấn về các dịch vụ lâm sàng/dịch vụ hỗ trợ cần thiết liên quan đến SK.
Các loại hình sản phẩm truyền thông Trong các chương trình nâng cao sức khỏe, để chuyển tải thông điệp đến đối tượng đích, việc sử dụng các kênh truyên bao gôm trực tiêp và gián tiẻp. Với mỗi kênh này, người làm truyền thông có thể lựa chọn các loại hình SPTT phù hợp sao cho đối tượng đích được tiếp cận với các thông điệp truyền thông, các nội dung cần truyền tải một cách dễ dàng, hiệu quả nhất. Các loại hình SPTT được sử dụng trong các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe: Loại hình truyền thông trực tiếp: tư vấn, thảo luận nhóm, các cuộc thi,. Loại hình truyền thông gián tiếp: + Các loại hình SPTT có khả năng tiếp cận 1 số đối tượng đích nhất định: sách mòng, tờ rơi, tranh lật, áp phích, pano, tạp chí, video, báo điện từ, internet, các sản phẩm khuyến mại(áo phông, áo mưa, mũ, túi sách, dây đeo chìa khóa, cốc uống nước.) + Các loại hình SPTT có khả năng tiếp cận rộng rãi các nhóm đối tượng hay còn gọi là truyền thông đại chúng: báo in, tạp chí, đài phát thanh, tivi.
Mỗi loại hình SPTT đều có các ưu và nhược điểm riêng vì vậy việc kết hợp các loại hình truyền thông trong các chương trình nâng cao sức khỏe là việc làm cần thiết để các thông điệp, nội dung truyền thông đến được với đối tượng đích [15]. Thực trạng chương trình và tài liệu nâng cao sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên •* 6 Vấn đề SKSS VTN là một vấn đề được quan tâm rất nhiều trên the giới cũng như tại Việt Nam. vẩn đề này chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi hành vi, niềm tin, thái độ, hiểu biết của chính bản thân VTN. Do đó, hiện nay, các chương trình nâng cao SKSS, SKTD cho nhóm đối tượng này đang được xây dựng nhằm nâng cao hiểu biết, thay đổi niềm tin, hành vi, thái độ của VTN.
Trong mồi chương trình này, việc sử dụng các SPTT đã góp phần đáng ke để đưa kiến thức đến với VTN, tạo nên thành công của các chương trình nâng cao sức khỏe. Trong giới hạn khóa luận này, tổng quan sẽ tập chung vào việc rà soát các dạng tài liệu in ấn được sử dụng trong các chương trình SKSS, SKTD cho VTN. Trên thế giới Tại Nepal, nhà nước đã đưa nội dung giáo dục về kiến thức, kỹ năng, và thái độ liên quan đến các nội dung SKSS, SKTD VTN trở thành nội dung bắt buộc trong chương trình học của học sinh lớp 6 -10 từ năm 2008. Qua quá trình phân tích và xây dựng, các nội dung SKSS, SKTD ở đây đã được phân bố phù hợp với từng độ tuổi ờ từng lớp và xây dựng thành các tài liệu giảng dạy với các nội dung tương ứng.
Việc phân bố các kiến thức về SKSS, SKTD phù hợp với từng độ tuổi đã giúp cho học sinh dễ dàng chấp nhận hơn các kiến thức mà họ được cung cấp [21]. Tại Zimbabwe, một chiến dịch năm 1997- 1998 với các hoạt động nhằm tăng cường kiến thức, tăng cường hành vi tình dục an toàn và sử dụng các dịch vụ SKSS, chương trình đà nhận được rất nhiều phản hồi tốt khi sử dụng các đồng đang viên giáo dục- những người được tuyển dụng từ cộng đồng, được đào tạo để có thể nói chuyện với thanh niên ở trường học, trong nhà thờ, ờ trung tâm thị trấn, và tại nhà riêng. Bên cạnh đó, các chương trình radio, đường dây nóng cũng được sử dụng đề tư vấn, giải đáp thắc mắc thông tin cho VTN. Poster và tời rơi cũng được sử dụng trong chương trình để cung cấp các kiến thức cho VTN.
Các poster với thông điệp: “Giá trị cùa bạn và tương lai tươi sáng; bạn có thể nghĩ rằng mình đã sẵn sàng cho quan hệ tình dục nhưng bạn đã sẵn sàng cho kết quà của nó chưa?”và các tờ rơi với nội dung cung cấp các kiến thức để vị thành niên có thể kiểm soát, làm thế nào để 7 nói không với quan hệ tình dục, trì hoãn quan hệ tình dục, trì hoãn làm cha mẹ sớm và giảm thiêu, phòng tránh các bệnh lây truyên qua đường tình dục. Đê phù hợp với các đối tượng đích, các tài liệu truyền thông này được sừ dụng và phân phoi thông qua các trường học đôi với các VTN ở độ tuôì từ 11-15. Còn các hình thức truyền thông khác như đài phát thanh truyền hình và đường dây nóng thì được sử dụng để tiếp cận với các đối tượng VTN lớn hơn và không ở trong trường học [20], Việc phân nhóm các đối tượng đích để cung cấp kiến thức theo các hình thức truyền thông phù hợp đã giúp cho mọi đối tượng trong cộng đồng đều có thể tiếp cận với các thông tin về SKSS. Bangladesh — KATSHAR Program, được bãt đâu thực hiện từ năm 2003, dự án tăng cường tiếp cận của VTN với dịch vụ và thông tin SKSS thông qua việc kết hợp chúng với dịch vụ của các tô chức chính phủ, phi chính phù và cộng đông; và sử dụng chiên lược giáo dục đông đắng đê nâng cao SKSS, SKTD và nhận thức của VTN với các sản phẩm được thiết kể đê sừ dụng trong dự án là ARSH booklets và Reproductive health toolbox là công cụ tương tác trực tuyển cung cấp chiến lược can thiệp dựa trên nghiên cứu và nguồn lực cho trẻ em và thanh thiếu niên với vấn đe phát triển và hành vi.
Các tài liệu sau đó đã được góp ý chia thành 2 dạng dành cho VTN 10-14 tuồi và 15 -19 tuổi và đồi tên thành Adolescent Health Toolbox và sử dụng trong các workshop và giáo dục đồng đẳng [16, 17], Các chương trình nâng cao SKSS cho VTN đều rất được quan tâm ở các quốc gia trên thế giới. Việc phân nhóm các đối tượng đích để cung cấp các thông tin phù hợp sẽ được đôi tượng đích cũng như cộng đông dê dàng châp nhận hơn, đặc biệt là các quổc gia mà tôn giáo còn khá kiêng kị về các vấn đề này như Bangladesh. Các tài liệu truyền thông được sử dụng trong các chương trình đều khá đa dạng và phong phú, được thiết kể theo nhu cầu thông tin và phù hợp với từng nhóm đối tượng. Tại Việt Nam Nâng cao SKSS, SKTD toàn dân nói chung trong đó có nhóm VTN đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng cùa chiến lược chăm sóc sức khỏe.
Chiên lược Quôc gia vê Dân sô và SKSS do Chính phủ phê duyệt ờ cả 2 giai đoạn 2001 - 2010 và 2011 - 2020 đều nhấn mạnh đến mục tiêu cải thiện SKSS VTN/TN và đề cập đến cả nội dung và phương pháp, định hướng cụ thể để triển khai các hoạt động truyền thông, chương trình giáo dục, dịch vụ để hướng tới giải quyết mục tiêu này [2, 4], Được sự hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi, có một lượng không nhò các chương trình nâng cao SKSS, SKTD cho VTN tại Việt Nam với quy mô toàn quốc và ờ tại các địa phương đã được triển khai [8]. Từ những năm 80 cùa the kỳ XX, đã có những nỗ lực nhằm đưa giáo dục SKSS vào các chương trình giảng dạy ờ Việt Nam dưới sự hỗ trợ của UNFPA. Nám 1997 - 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã kết hợp cùng với UNFPA triển khai Dự án VIE/97/P13 - Chương trình đào tạo Quốc gia về SKSS và Dân số phát triển. Chương trình được thực hiện với mục tiêu nâng cao nhận thức, giảm hành vi nguy cơ liên quan đến SKSS và lây nhiễm HIV trong học sinh trung học thông qua việc nâng cao chất lượng giáo dục về SKSS và phòng, chống HIV/A1DS.
Dự án này đã biên soạn tài liệu dạy giáo dục dân so - SKSS trong nhà trường THPT. Bộ tài liệu này được triển khai tại 8 tỉnh trọng điểm trên toàn quốc và được các nhà sư phạm và các nhà chuyên môn về dân so đánh giá là khá tốt cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục dân số - SKSS VTN. Việc triển khai huấn luyện giáo viên dạy cho học sinh trong các trường THPT cũng có nhiều kết quả. Tuy nhiên phạm vi phố biến cùa tài liệu này còn hẹp mới có 8 tỉnh trong số 61 tỉnh thành (thời điểm những năm 1990) được hưởng kết quả của dự ánVIE/97/PB [11], “Trao quyền để thanh thiếu niên quyết định an toàn về sức khỏe sinh sản và tình dục” là nội dung dự án:"Hành trang tuồi hồng" mà Sở Giáo dục- Đào tạo, Đại học Sư phạm Đà Nằng và tổ chức RutgersWPF (trước đây là Quỹ Dân số thể giới) thực hiện tại Việt Nam.