TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG VIỆN ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG QUẢN LÝ NGÀNH Y TẾ BỘ MÔN CHÍNH SÁCH VÀ KINH TẾ Y TẾ PHÁP LUẬT Y TẾ VÀ Y ĐỨC (TÀI LIỆU HỌC TẬP - DÀNH CHO ĐỐI TƯỢNG THẠC SĨ KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM Y HỌC) LƯU HÀNH NỘI BỘ Năm 2020 MỤC LỤC MỤC LỤC. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT – .4 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT. Nguồn gốc, thuộc tính, bản chất và chức năng của pháp luật.
Pháp luật Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. KHÁI NIỆM VÀ CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT, CĂN CỨ PHÂN CHIA NGÀNH LUẬT. Khái niệm và cấu trúc của hệ thống pháp luật. Căn cứ để phân chia ngành luật.
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NHÀ NƯỚC VIỆT NAM. Các ngành luật trong hệ thống pháp luật nhà nước Việt Nam. Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta và thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. PHÁP LUẬT Y TẾ VIỆT NAM.
NHỮNG VẤN ĐÊ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT Y TẾ. Khái niệm, bản chất, vai trò của pháp luật Y tế. Mối quan hệ giữa pháp luật y tế với các ngành luật khác. Đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh.
Phạm vi điều chỉnh. Hình thức, nguồn và quy phạm của pháp luật y tế. Quan hệ pháp luật y tế. Mối quan hệ giữa pháp luật y tế và quản lý nhà nước về y tế.
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT Y TẾ VIỆT NAM. Những văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu hình thành hệ thống pháp luật y tế Việt Nam. Hệ thống pháp luật y tế trong một số lĩnh vực. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT Y TẾ.
Khái niệm và ý nghĩa của thực hiện pháp luật y tế. Các hình thức thực hiện pháp luật y tế. Các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật y tế. VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT Y TẾ.
Vi phạm pháp luật y tế. Xử lý vi phạm pháp luật y tế. CÁC MỐI QUAN HỆ ỨNG XỬ TRONG BỆNH VIỆN. CÁC QUAN HỆ ỨNG XỬ TRONG BỆNH VIỆN.
CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ ỨNG XỬ TRONG BỆNH VIỆN:. Yếu tố dịch vụ công. Yếu tố đạo đức. Yếu tố pháp luật.
NỘI DUNG CÁC MỐI QUAN HỆ ỨNG XỬ TRONG BỆNH VIỆN. Quan hệ giữa thầy thuốc và người bệnh. Quan hệ giữa thầy thuốc và gia đình người bệnh. Quan hệ giữa cán bộ và nhân viên y tế trong bệnh viện.
Quan hệ giữa lãnh đạo bệnh viện và thầy thuốc. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ GẮN KẾT VÀ PHÁT TRIỂN CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG BỆNH VIỆN. Nâng cao y đức. Tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước.
Cải thiện điều kiện hành nghề cho thầy thuốc và nhân viên y tế. Xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về khám chữa bệnh. ĐẠO ĐỨC TRONG Y TẾ. NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG.
Đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức trong y tế. BA CÁCH TIẾP CẬN CƠ BẢN TRONG ĐẠO ĐỨC. Đạo đức vị mục đích.
Đạo đức vị trách nhiệm .3 Đạo đức vị nhân quyền. ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU Y SINH HỌC. Các vấn đề đạo đức trước khi bắt đầu nghiên cứu.
Đạo đức trong khi thực hiện nghiên cứu. Các vấn đề đạo đức sau nghiên cứu. Khía cạnh đạo đức trong công bố kết quả .2 Những hành động trái nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu. HỘI ĐỒNG ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU Y SINH HỌC.
MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP. Trường hợp 1. Trường hợp 2. Trường hợp 3.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT – HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM CHUẨN ĐẦU RA: 1. Mô tả các khái niệm cơ bản về Pháp luật và cấu trúc của hệ thống pháp luật 2. Phân tích các tiêu chí cơ bản trong việc phân chia ngành luật 3. Mô tả hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay và một số ngành luật cơ bản có liên quan đến ngành y tế NỘI DUNG PHẦN 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT 1. Nguồn gốc, thuộc tính, bản chất và chức năng của pháp luật Pháp luật là hệ thống những nguyên tắc xử sự do Nhà nước ban hành và thừa nhận, bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, là yếu tố điều chỉnh của các quan hệ xã hội nhằm tạo ra một xã hội ổn định và trật tự. Pháp luật của một quốc gia được hình thành bằng hai con đường: Thứ nhất, giai cấp thống trị thông qua bộ máy Nhà nước của mình cải tạo, sửa chữa các quy tắc phong tục, tập quán, đạo đức sẵn có cho nó phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và các quy tắc đó trở thành pháp luật. Thứ hai, bằng bộ máy nhà nước của mình, giai cấp thống tri đặt ra thêm các quy phạm mới, dùng quyền lực buộc mọi thành viên xã hội phải tuân theo nhằm duy trì một trật tự xã hội trong vòng trật tự của giai cấp thống trị, đồng thời bảo vệ lợi ích, củng cố sự thống trị đối với xã hội Thuộc tính của pháp luật chính là những đặc trưng riêng biệt phân biệt nó với các hiện tượng xã hội khác và có bốn thuộc tính cơ bản: Tính quy phạm phổ biến: pháp luật là những quy tắc xử sự vì nó luôn luôn là khuôn mẫu, là tiêu chuẩn cho các hành vi và cách cư xử của con người đối với nhau.
Trong các mối quan hệ xã hội, con người căn cứ vào các quy tắc đó mà xác định hành vi của mình, xem mình làm được gì, phải làm gì, hoặc không được làm gì và nếu vượt qua giới hạn đó là vi phạm pháp luật. Khoa học pháp lý gọi các quy tắc xử sự đó là các quy phạm. Tuy nhiên, trong xã hội, không phải chỉ có pháp luật mới có tính quy phạm. Các quy tắc xử sự khác trong xã hội khác như đạo đức, các tín điều của một tôn giáo, các quy tắc hoạt động của một tổ chức xã hội được ghi nhận trong 4 điều lệ cửa nó.
cũng có tính quy phạm. Nhưng so với các quy tắc xử sự khác, các quy phạm của pháp luật mang tính phổ biến hơn, tức là nó bao quát, rộng khắp hơn so với các quy phạm xã hội khác. Nếu các quy phạm xã hội khác chỉ bao quát một số lĩnh vực hay đối tượng nào đó thì quy phạm pháp luật có thể tác động đến tất cả các lĩnh vực, các đối tượng trong xã hội. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: nội dung của các quy tắc, khuôn mẫu pháp luật được quy định rõ ràng, chính xác và chặt chẽ trong các điều khoản và được thể hiện trong các hình thức xác định, đó là các văn bản pháp luật có tên gọi được quy định chặt chẽ.
Tên gọi của các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật, Đạo luật, Pháp lệnh, Nghị định. Tính được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước: về bản chất, pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Nhưng bản thân ý chí của giai cấp thống trị lại chưa trực tiếp trở thành pháp luật. Muốn có pháp luật, giai cấp thống trị phải có các phương cách thích hợp biến ý chí của mình thành ý chí nhà nước.
Trên cơ sở đó nhà nước thống qua các cơ quan chuyên môn của mình thể hiện ý chí đó thành pháp luật dưới những hình thức cụ thể thích hợp. Pháp luật phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc bộ máy nhà nước xây dựng, ban hành bằng các văn bản của nhà nước, mang dấu ấn của nhà nước. Và để thực hiện pháp luật, nhà nước đưa vào các quy phạm pháp luật tính quyền lực áp đặt đối với mọi chủ thể, bằng cách gắn cho pháp luật tính bắt buộc chung. Nhà nước sử dụng các phương tiện khác nhau để thực hiện pháp luật, phương pháp hành chính, kinh tế, tổ chức tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và biện pháp cưỡng chế.
Tính hệ thống, thống nhất, ổn định và năng động: tất cả các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp dưới phải phù hợp với các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và không được trái với Hiến pháp. Tính ổn định của pháp luật thể hiện ở chỗ, pháp luật phải phù hợp trong một thời gian tương đối dài và phải phù hợp với điều kiện khách quan. Tuy nhiên, khi điều kiện kinh tế xã hội thay đổi, pháp luật cũng sẽ được điều chỉnh sửa đổi cho phù hợp. Pháp luật có ba chức năng chủ yếu: Chức năng điều chỉnh: Chức năng điều chỉnh của pháp luật thể hiện vai trò và giá trị xã hội của pháp luật.
Pháp luật được đặt ra nhằm hướng tới sự điều chỉnh các quan hệ xã hội. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội. Mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Như vậy pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng nhất định phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội.
5 Chức năng bảo vệ: Chức năng bảo vệ là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn hành vi xâm phạm tính mạng sức khoẻ con người bị xử lý theo Luật hình sự, hành vi gây thiệt hại tài sản buộc phải bồi thường theo Luật dân sự. Chức năng giáo dục: Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm pháp luật.