mở đầu cho phong trào nông dân nổi dậy những giai đoạn sau đó. Cuộc khởi nghĩa bị bại lộ, nên bị dập tắt nhanh chóng. Cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo (1516 – 1521): Cuộc khởi nghĩa nổ ra vào tháng 3 năm Bính Tý (1516) tại Thuỷ Đường (Thuỷ Nguyên – Hải Phòng) rồi nhanh chóng lan sang Đông Triều, Tiên Du, Quế Dương, Gia Lâm, uy hiếp Đông Đô. Nhân lúc một số triều thần nổi dậy sát hại vua Lê Tương Dực, lập Quang Trị (mới 8 tuổi) lên ngôi rồi đưa vua chạy vào Tây Đô, Trần Cảo đưa quân từ Kinh Bắc tiến vào chiếm giữ kinh thành.
Sau đó triều thần nhà Lê lập vua Lê Chiêu Tông, kéo về bao vây đánh phá chiếm lại kinh thành. Trần Cảo buộc phải rút quân về vùng Lạng Nguyên. Đến năm 1521, Trần Cảo giao binh quyền cho con là Trần Thắng rồi đi tu. Đến tháng 7/1521, vua sai Mạc Đăng Dung đem quân đi đánh, phá được quân của Trần Thắng.
Khởi nghĩa Trần Cảo chấm dứt. ➢ Bắc Ninh dưới thời nhà Mạc (1527 – 1592) Năm 1522, Đàm Thận Huy đỗ Tiến sĩ khoa 1490 quê ở Ông Mặc – Đông Ngàn), cùng với học trò là Nguyễn Hữu Nghiêm quê ở Phúc Khê – Đông Ngàn nhận được mật dụ của vua Lê Chiêu Tông đã mộ quân khởi nghĩa chống lại Mạc Đăng Dung. Việc không thành Đàm Thận Huy uống thuốc độc tự vẫn, Nguyễn Hữu Nghiêm bị bắt và bị xử tử. 7 Nguyễn Tự Cường (Tam Sơn – Đông Ngàn), đỗ tiến sĩ khoa thi 1514, mộ hương binh nhiều lần đánh quân của triều Mạc tại sông Thiên Đức (sông Đuống).
Nhưng do lực yếu không địch nổi quân Mạc, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt. ➢ Bắc Ninh dưới thời Lê trung hưng (thế kỉ XVII – XVIII) Vùng đất Bắc Ninh lúc bấy giờ nằm trong trấn Kinh Bắc là một trong 4 nội trấn. Đứng đầu mỗi trấn có Trấn ti nắm binh quyền, người đứng đầu trấn, Hiến ti trông coi việc hành chính, tư pháp. Năm 1723, chúa Trịnh Cương chuyển các trấn thành thừa tuyên.
Thừa tuyên Kinh Bắc có 4 phủ, 20 huyện, vùng đất Bắc Ninh lúc đó thuộc 2 phủ. Các huyện Lang Tài, Siêu Loại và Gia Định thuộc phủ Thuận An; các huyện Quế Dương, Võ Giàng, Đông Ngàn, Tiên Du, Yên Phong thuộc phủ Từ Sơn. Đầu năm 1740, Nguyễn Tuyển từ căn cứ Ninh Xá (Chí Linh – Hải Dương) nổi dậy chống triều đình. Trong vòng nửa năm, nhân dân các phủ Từ Sơn, Thuận An đều nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, dinh lũy san sát, quân đông tới hàng vạn.
Nghĩa quân đã nhiều lần uy hiếp kinh thành, khiến Trịnh Doanh phải cho đóng chặt cửa kinh thành, điều quân từ các vùng ở Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam về ứng cứu. Cho đến tháng 3/1741, Trịnh Doanh tập trung toàn quân mới dẹp yên được cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển. Tháng 6/1744, nghĩa quân của Nguyễn Hữu Cầu tiến lên vây hãm trấn thành Kinh Bắc ở Thị Cầu, phóng hoả, đốt phá dinh trại quân Trịnh, buộc quân Trịnh bỏ thành chạy về kinh thành. Nghĩa quân làm chủ trấn thành Kinh Bắc, uy hiếp Thăng Long.
Đến cuối năm 1744, Trịnh Doanh cử 4 đạo quân tấn công nghĩa quân. Tháng 9/1745, Nguyễn Hữu Cầu rút khỏi Kinh Bắc về khu Đông Bắc. ➢ Bắc Ninh dưới thời Tây Sơn Cuối năm 1787, Nguyễn Huệ cử quân ra Bắc đánh tan các lực lượng chống đối, tiến vào Thăng Long. Lê Chiêu Thống phải bỏ kinh thành, vượt sông trốn lên Kinh Bắc.
Tại vùng Kinh Bắc, Lê Chiêu Thống dựa vào một số nho thần và một số thổ hào để chiêu tập binh sĩ, tìm cách chống lại Tây Sơn. Tuy nhiên, thế cùng, lực kiệt, Lê Chiêu Thống phải người sang cầu cứu nhà Mãn Thanh. Mượn cớ giúp nhà Lê, triều đình Mãn Thanh cử hơn 20 vạn đạo quân do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy xâm lược nước ta vào ngày 23/10/1788. Lê Chiêu Thống nghe tin quân Thanh tiến sang bèn tụ tập lực lượng để đón tiếp.
Sau khi vượt qua sự truy cản của quân Tây Sơn, quân giặc đánh chiếm quân doanh Thị Cầu. Đêm mùng 5 Tết Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn từ nhiều ngả tiến vào giải phóng Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị mang tàn quân chạy qua Bắc Ninh, bị chặn đánh phải bỏ cả ấn tín, cờ lọng chạy về nước. Tóm tắt tình hình chính trị Bắc Ninh từ đầu thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVIII.
Nêu ý nghĩa của các cuộc khởi nghĩa diễn ra ở Bắc Ninh từ đầu thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVIII. b) Về kinh tế ➢ Bắc Ninh dưới thời nhà Mạc (1527 – 1592) Nhà Mạc có tư duy kinh tế cởi mở, sớm nhìn thấy xu thế tiến bộ của thủ công nghiệp, thương mại và kinh tế hàng hóa. Nhưng từ khi Nguyễn Kim nổi dậy, chiến tranh nổ ra, đất nước bị tàn phá, kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thời kì này, Bắc Ninh không những chịu hậu quả chung của chiến tranh Nam Triều – Bắc Triều kéo dài mà còn là nơi cung cấp cả người và của chủ yếu, trực tiếp để nhà Mạc khai thác phục vụ cho chiến tranh.
Việc thu vét sưu thuế để chi dùng chỉ đòi hỏi ở dân nghèo, vì vậy, đời sống của nhân dân vô cùng khổ cực. ➢ Bắc Ninh dưới thời Lê trung hưng (thế kỉ XVII – XVIII) Nông nghiệp ở Bắc Ninh dưới thời Lê trung hưng về cơ bản vẫn là tiểu nông, tự cung tự cấp. Trong thời kì này đã xuất hiện giống gà Hồ, nghề nuôi cá con ở xã Mão Điền, … Do người dân Bắc Ninh cần cù, chịu khó, không ngừng nâng cao trình độ thâm canh, chọn giống cây trồng, làm thuỷ lợi nên đời sống kinh tế tương đối ổn định. Về thủ công nghiệp, trên địa bàn Bắc Ninh đã xuất hiện nhiều làng nghề thủ công.
Hệ thống làng nghề ở Đông Ngàn, Siêu Loại, Yên Phong, Tiên Du khá phong phú, đa dạng, thể hiện sự phân công và hợp tác khá phát triển. Các làng nghề đều tập trung vào sản xuất các mặt hàng như: Nấu dầu thắp, đúc gang, đan, dệt lụa, làm giấy dó, vẽ tranh, làm đồ mã, làm gạch ngói, thợ nề, đúc đồng, dệt chiếu,. Về thương nghiệp, do hình thành các làng nghề thủ công cùng với giao thông đường thuỷ, đường bộ ngày càng thuận lợi, nên trong các thế kỉ XVII, XVIII các chợ ngày càng phát triển và hoạt động buôn bán khá sầm uất. Nổi tiếng là các chợ ở Phù Lưu (Đông Ngàn), Thị Cầu (Võ Giàng), Đại Bái (Gia Định), Hồ, Dâu (Siêu Loại),.
➢ Bắc Ninh dưới thời Tây Sơn Nhờ chính sách phục hồi nông nghiệp, khuyến khích công thương nghiệp nên đời sống kinh tế của nhân dân Bắc Ninh giai đoạn này dần được ổn định. Tuy nhiên, khi vua Quang Trung mất (1792), kinh tế Bắc Ninh cũng như cà nước dần dần lâm vào cảnh sa sút. 9 Em hãy nêu những nét chính về tình hình kinh tế ở Bắc Ninh từ đầu thế kỉ XVI đến hết thế kỉ XVIII. c) Về giáo dục và văn hoá ➢ Việc học và thi cử Dưới triều Mạc và thời Lê trung hưng, người Bắc Ninh coi trọng việc học, do đó Bắc Ninh có nhiều người đỗ đạt cao, thành đạt trên con đường quan lộ.
Nhiều làng, huyện nổi tiếng về thành đạt trong khoa cử thời kì này như: Vĩnh Kiều, Vân Điềm, Tam Sơn (Đông Ngàn), Bảo Triện (Gia Định), Kim Đôi (Võ Giàng),. Nổi bật trong các quan lại thời kì này là tiến sĩ Nguyễn Công Hãng (Đông Ngàn), 13 năm làm Tể tướng (1720 – 1732), người đã đề ra nhiều cải cách về kinh tế, tài chính, việc học, việc thi mong cứu vãn sự kiệt quệ của chính quyền họ Trịnh. ➢ Tín ngưỡng, tôn giáo Trong các thế kỉ XVI, XVII, XVIII hầu hết các chùa lớn đều được trùng tu, mở rộng. Chùa Phật Tích được tu sửa lại với quy mô lớn vào năm 1686; chùa Dâu trong các thế kỉ này nhiều lần được trùng tu; chùa Bút Tháp được chúa Trịnh Tráng cho xây dựng lại và hoàn thành vào năm 1647.
Một số chùa mới được xây Hình 1. Chùa Dâu, phường Thanh Khương, dựng như: chùa Lim (1612), thị xã Thuận Thành chùa Tam Sơn (1692), chùa Bách Môn (1767 – 1782),. Hầu hết gần các chùa lớn ở Bắc Ninh đều có chợ, gọi là chợ Tam Bảo, để thu tiền chợ lo việc đèn hương, tu sửa chùa. Đạo Phật trong các thế kỉ này không chỉ hồi phục, mà còn phổ biến trong hầu hết làng xã ở Bắc Ninh.
Tuy nhiên, về các nghi lễ và nội dung thờ cúng trong các chùa đã thấy dấu hiệu thâm nhập của những tín ngưỡng ngoài đạo Phật. Tín ngưỡng thờ thành hoàng trong các làng xã ở Bắc Ninh đã có từ lâu, nhưng đặc biệt trở nên quy mô, phổ cập từ thế kỉ XVI. Tất cả việc thờ cúng thành hoàng đã chuyển từ các đền, miếu sang những ngôi đình lớn. 10 ➢ Văn học Văn học dân gian: trong thời kì này, các tác phẩm văn học dân gian thể hiện sự phong phú, sinh động của đời sống nhân dân, trong đó phải kể đến, Trần Danh Án (Bảo Triện – Gia Định) sưu tập ca dao viết thành Nam Phong giải trào; Nguyễn Án (Du Lâm – Đông Ngàn) cùng với Phạm Đình Hổ viết Tang thương ngẫu lục, … Truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn được lưu hành và yêu mến ở Bắc Ninh.
Những làng có phong tục nói ngang, nói tức, nói khoác, … để gây cười, thấm đậm tinh thần hài hước, trào lộng, lạc quan của dân gian ngày càng nổi tiếng, tiến tới sự thi thố chính thức trong những dịp lễ hội như ở Đông Yên (Yên Phong), Trúc Ổ (Võ Giàng),. Những giai thoại về các danh nhân hoặc các thần đồng về học hành, thi cử như: Trạng Bựu, Trạng Me, Trạng Ngọt, … phản ánh lòng yêu mến của nhân dân đối với những người chăm chỉ học hành. Sinh hoạt ca hát dân gian ở Bắc Ninh có từ lâu đời như hát Trống quân ở Thuận Thành, sinh hoạt văn hoá Quan họ trong các làng thuộc các huyện Tiên Du, Yên Phong, Võ Giàng, … Tục kết chạ, kết ước, kết nghĩa giữa các làng xã, sinh hoạt văn hoá Quan họ đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia sáng tạo, thưởng thức, đẩy trình Hình 1. Câu lạc bộ hát trống quân thôn Bùi Xá, độ sáng tạo thơ ca và phường Ninh Xá, thị xã Thuận Thành âm nhạc Quan họ lên một đỉnh cao mới.
Văn học thành văn: Bắc Ninh có những tác giả viết văn bằng chữ Nôm nổi tiếng.