mở đầu cho mọi tình huống sân khấu. Nó đan xen, hoà quyện với vai diễn, hỗ trợ cho các hành động của nhân vật đạt đến cảm xúc cao trào nhất. Khác với nhạc cụ trống, tiếng kèn, tiếng nhị, thanh la cùng hoà nhịp với trống chiến lúc to, lúc nhỏ, lúc thôi thúc, lúc buồn, lúc vui, lúc giận dữ,. đều thể hiện hài hoà, nhịp nhàng với diễn viên trên sân khấu.
Hình thức diễn tấu của âm nhạc trong sân khấu tuồng a. Rao, dạo: là đánh những câu nhạc mang tính “ứng diễn” nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh, tâm lí nhân vật nhằm gợi cảm, hỗ trợ cho diễn viên biểu hiện vai diễn, lớp diễn. Mặt khác, nó làm điểm tựa cho diễn viên không bị chênh hơi, lạc giọng. Tòng đệm cho hát: là trên cơ sở giai điệu và tiết tấu của bài hát, người nhạc công đệm theo.
Đôi lúc có sự sáng tạo mang tính ngẫu hứng. Các bài nhạc đệm cho nói và hát với các cung bậc cảm xúc khác nhau: Nói lối là làn điệu chiếm vị trí chủ yếu và không thể thiếu trong nghệ thuật hát tuồng. Gọi là nói nhưng thực chất là hát có vần, có điệu, có tiết tấu,. Nói lối là làn điệu nói dẫn đường, được dùng trong những trường hợp như: tự giới thiệu với khán giả và trình bày một cảnh ngộ nào đó, xưng tên tuổi, 14 chức tước, khi muốn khiêu chiến trước lúc ra trận; Nói vội vã, vui tươi; Nói giọng sầu bi còn gọi là nói Lối ai; Hát ai oán, não nề còn gọi là hát Nam ai; Cũng hát Nam nhưng khẩn trương, vội vã gọi là hát Nam chạy; Hát vui tươi, lạc quan và khẩn trương còn gọi là hát Nam xuân; Hát đối thoại với nhau còn gọi là hát Khách.
Nghệ thuật tuồng mang tính bi hùng kịch nên dàn nhạc cũng phục vụ cho tính chất ấy. Âm nhạc sân khấu tuồng luôn phát huy tính đa dạng và hiệu quả vốn có của nó. Nêu các hình thức diễn tấu âm nhạc trong sân khấu tuồng. Vì sao phải có đầy đủ các loại nhạc cụ cho một dàn nhạc tuồng truyền thống? II.
ÂM NHẠC BÀI CHÒI Hình 2. Dàn nhạc ở hội bài chòi Hình 2. Dàn nhạc ở sân khấu ca kịch bài chòi (Nguồn: nhahatntttbinhdinh. Nguồn gốc bài chòi Hội bài chòi là một trong những hoạt động tổ chức vui xuân của nhân dân, xuất xứ từ Bình Định rồi sau đó lan ra các tỉnh lân cận thuộc vùng duyên hải miền Trung.
Sự ra đời của làn điệu bài chòi Làn điệu bài chòi ra đời là do quá trình lao động và sáng tạo của anh (chị) Hiệu. Anh (chị) Hiệu là người phục dịch cho hội chơi như thu, phát bài, hô bài,. là người có nhiệm vụ quản trò, điều khiển cuộc chơi sao cho sôi nổi và hấp dẫn. Trong quá trình lao động có tính chất nghề nghiệp của mình, các anh (chị) Hiệu đã luôn tìm tòi, sáng tạo để đổi mới giọng hô.
Các nghệ nhân cô đúc lại thành làn điệu đầu tiên của bài chòi với câu bài (Câu tức là một đoạn hát ngắn, thông thường trong khuôn khổ một câu thơ lục bát). Ví dụ như các câu bài “tứ móc”, “tứ cẳng”, “ông ầm”,. Như vậy, điệu bài chòi ra Hình 2. Hội đánh bài chòi dân gian đời từ hội chơi bài chòi.
Anh (chị) Hiệu Hình 2. Dàn nhạc (Nguồn: baobinhdinh. Các quân bài Hình 2. Bố trí các chòi chơi (Nguồn: monngonbinhdinh.vn) Một số hình ảnh về các nhân vật và dụng cụ được sử dụng trong hội bài chòi – Về nội dung gồm có nhiều loại: độc tấu, kể chuyện, đối đáp, ca kịch.
– Về làn điệu: Nếu ở giai đoạn phôi thai, bài chòi chỉ có một điệu hát mang tên “Điệu bài chòi” thì ở giai đoạn phát triển sau, bài chòi hình thành các làn điệu: Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bản (Nam xuân) và Hồ quảng. Riêng điệu Xuân nữ có những chuyển điệu rất linh hoạt và hấp dẫn. Những đặc điểm của âm nhạc bài chòi Bài chòi thuộc thể loại âm nhạc kể chuyện, khúc thức không giới hạn câu chữ. Một bài (đoạn hát, khúc hát) có bao nhiêu đoạn văn, mỗi đoạn không giới hạn câu chữ.
Đơn vị bài căn cứ theo nội dung lời ca và mức độ đủ đảm bảo cho hiệu quả hấp dẫn của nội dung đó. Bài chòi không bao giờ hát lại hai lần trong một lời ca của toàn khúc hát, dù đó là tiết mục độc tấu trong sân khấu ca nhạc. Một cảnh trong vở Hình 2. Một cảnh trong vở Hình 2.
Một cảnh trong vở Chuyện tình nàng Sita Thanh gươm công lí Thoại Khanh – Châu Tuấn (Nguồn: baobinhdinh.vn) (Nguồn: baobinhdinh.vn) (Nguồn: nhahatntttbinhdinh.vn) Một số hình ảnh trong các vở diễn trên sân khấu ca kịch bài chòi của Đoàn ca kịch bài chòi Bình Định 16 Âm nhạc bài chòi phụ thuộc vào lời ca và nhờ có nghệ thuật diễn xướng qua nội dung lời ca nên hiệu quả âm nhạc mang tính kịch rất cao, tính hấp dẫn, lôi cuốn khá mạnh mẽ, sâu sắc. Từ điểm này, bài chòi đã khác hẳn với các loại dân ca. Nghệ thuật bài chòi là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hoá, tinh thần của người dân Bình Định. Vì vậy, chúng ta cần phải biết trân trọng, gìn giữ, bảo tồn và tiếp tục phát triển loại hình nghệ thuật truyền thống này.
Nhạc cụ biên chế trong dàn nhạc bài chòi – Dàn nhạc biên chế trong hội bài chòi gồm: đàn nhị, trống chiến, song loan. – Dàn nhạc biên chế trong sân khấu bài chòi gồm: trống chiến, song loan, đàn nhị chính, đàn nhị phụ. Ngày nay, dàn nhạc sân khấu bài chòi còn bổ sung thêm các nhạc cụ dân tộc khác: đàn kìm, đàn bầu, đàn tranh, sáo trúc, ghi-ta phím lõm,. đồng thời cũng có xuất hiện một số nhạc cụ phương Tây khác, nhằm mục đích làm phong phú hơn trong hoạt động diễn xướng của loại hình nghệ thuật này.
Cho biết làn điệu bài chòi được ra đời từ đâu. Kể tên các làn điệu bài chòi hiện nay mà em biết. NHẠC VÕ TÂY SƠN Tương truyền Hoàng đế Quang Trung dùng bài nhạc võ Tây Sơn để cổ vũ binh sĩ trước giờ xuất trận nên bài nhạc này còn gọi là Trống trận Quang Trung. Nhạc võ Tây Sơn gồm có phần nhạc và phần võ, với âm hưởng chủ đạo là thanh âm của dàn trống trận.
Bản nhạc trống kết hợp với kèn, nhị, thanh la,. được biến tấu từ nhạc chiến, Tẩu mã, Xàng xê và Chiêu xuân của âm nhạc tuồng truyền thống. Về phần nhạc Phần nhạc được phối âm dựa trên tiết tấu chủ đạo của trống trận trên nền âm nhạc cổ truyền. Bài bản âm nhạc trong nhạc võ Tây Sơn mang tên Trống trận Quang Trung.
Đây là một bài bản đặc biệt, bởi đó là một bản khí nhạc dân gian với chất liệu âm nhạc đậm chất Nam Trung Bộ, thang 5 âm (Xang, Xê, Cống, Líu, Ú, Xáng) nhưng lại có phong cách âm nhạc bác học – thể loại tiểu phẩm khí nhạc. Các giai điệu âm nhạc sử dụng trong bài nhạc võ Tây Sơn gồm: bài hát Khách, bài Tẩu mã và bài Ba bảy. Về phần trống Phần trống chia làm ba hồi: Tập hợp quân – Xuất quân, Xung trận – Phá thành và Khúc khải hoàn. Hoàn toàn không có hồi “Lui quân” hoặc “Thu quân” như trống trận của các triều đại khác, cũng như quân đội của nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Bản khí nhạc Trống trận Quang Trung là một tiểu phẩm khí nhạc dân gian được cấu trúc thành ba hồi: hồi Tập hợp quân – Xuất quân có sử dụng khổ trống Khách; hồi Xung trận – Phá thành sử dụng bài trống Tẩu mã là tiết tấu chính; hồi Khúc khải hoàn mang âm hưởng của khổ trống bài Ba bảy. Biểu diễn trống trận dưới Tượng đài vua Quang Trung 3. Nhạc cụ biên chế trong dàn nhạc Nhạc cụ sử dụng trong nhạc võ Tây Sơn gồm: trống chiến, kèn sona, chiêng, phèng la. Linh hồn của dàn chiến nhạc là 12 chiếc trống, tương ứng cho thập nhị địa chi (mỗi trống mang tên một con giáp trong 12 chi), xếp thành ba bậc trên giá đỡ ứng với triết lí Thiên – Địa – Nhân (Trời – Đất – Con người).
Nghệ thuật múa trống của võ công giao thoa với múa tuồng, người nghệ sĩ đều phải cùng một lúc làm hai việc (diễn tấu trống kích âm tạo ra võ thanh và múa trống tạo ra võ hình). Bà Nguyễn Thị Thuận (người phụ nữ ở giữa) thể hiện bài trống trận 18 4. Đặc trưng của nhạc võ Tây Sơn Đặc trưng của nhạc võ Tây Sơn là những đòn thế võ thuật hàm chứa trong từng thủ pháp thể hiện nhạc trống. Người đánh trống trận cũng phải tự chiến đấu để vừa bảo vệ mình, vừa bảo vệ tiếng trống, giữ nhịp trận đánh không bị ngắt quãng.
Chính vì lẽ đó mà đôi dùi võ trống, động tác đánh trống, bộ pháp di chuyển cũng là một thế võ tự vệ. Nhạc võ Tây Sơn được chia thành mấy phần? Nêu nội dung của từng phần. Nhạc võ Tây Sơn thời vua Quang Trung được dùng vào mục đích gì? Nêu nét đặc trưng của nó. Tên gọi và nguồn gốc Nói đến văn hoá miền biển phải nói về lễ hội cầu ngư.
Nét đặc sắc trong lễ hội cầu ngư ở Bình Định là loại hình nghệ thuật diễn xướng hát múa bả trạo. Nó còn có các tên gọi khác như chèo bả trạo, múa bả trạo, hò đưa linh,. Lễ hội cầu ngư ở tỉnh Bình Định Hình 2. Đội hình hát múa bả trạo Hình 2.
Đội hình biểu diễn bả trạo (Nguồn: baobinhdinh.vn) (Nguồn: baobinhdinh.vn) Trường THPT Tam Quan Một số nhà nghiên cứu cho rằng kịch bản bả trạo của mỗi làng chài hầu như không thay đổi nhiều so với kịch bản hát bội bả trạo mẫu mực của cụ Tú Diêu (tức Nguyễn Diêu; sinh năm 1822, mất năm 1880; hiệu Quỳnh Phủ; là nhà thơ, nhà soạn tuồng hát bội Việt Nam) người làng Nhân Ân, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước ở thế kỉ XIX. Đặc trưng nghệ thuật hát múa bả trạo Buổi hát bả trạo diễn ra đầy đủ một quá trình đi biển, từ lúc dong thuyền ra khơi cho đến lúc trở về. Vì vậy, động tác chèo lúc mạnh mẽ (khi chống chọi với bão tố), lúc nhẹ nhàng (khi biển êm, buông câu kéo lưới). Động tác chèo đưa linh hồn người mất không nhanh, không mạnh mà chậm rãi, kính cẩn.
Những động tác chèo thường gợi cảm giác thân thuộc, lòng yêu thương và sự gắn bó với nghiệp biển giã của ngư dân. Lời ca được viết trong kịch bản của hát bả trạo vừa hàm chứa yếu tố tín ngưỡng vừa thể hiện nguyện vọng của ngư dân, tinh thần lạc quan, sự yêu nghề, tình yêu cuộc sống và nhất là chất lãng mạn của những nghệ sĩ vạn chài.