Chương 1 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN DIỆN VÀ SỬ DỤNG TƯ LIỆU LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG THCS 1. Một số khái niệm Năng lực: Thuật ngữ "năng lực" (competence) có nguồn gốc tiếng La tinh là “competentia” có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Việt cũng như trong tiếng Anh được sử dụng với nhiều nghĩa cụ thể, gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và ngữ cảnh riêng biệt. Hơn nữa, năng lực lại rất gần gũi với các từ khác như tiềm năng, kĩ năng, khả năng…Chính vì vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực (NL).
"Năng lực là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như các kinh nghiệm của học sinh; những kỹ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn lực từ bên ngoài, chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác" (The Qúebec puesgram - MOE Ca-na-đa, 2004). Chương trình giáo dục phổ thông của New Zealand nêu một cách ngắn ngọn: “Năng lực là khả năng hành động hiệu quả hoặc sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” (CTGD của New Zealand) Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục cũng đã định nghĩa khái niệm năng lực như sau: Trong Hội nghị chuyên đề về những NL cơ bản của OECD, F. Weinert cho rằng: "Năng lực được thực hiện như một hệ thống khẳ năng, sự thành thạo hay những kỹ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể" [dẫn theo 4]; còn J.
Coolahan thì viết: Năng lực được xem như là: "Những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục” [dẫn theo 4]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khẳ năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao, hay "khả năng làm việc tốt". Từ điển Tâm lí học định nghĩa: "Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định" [16, tr. Chúng ta có thể thấy việc phát biểu (câu chữ) có khác nhau, nhưng các cách hiểu trên đều khẳng định rằng: nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm chứ không chỉ biết và hiểu.
Tuy nhiên, hành động (làm) hay thực hiện phải gắn với ý thức và thái độ, phải có kiến thức và kỹ năng chứ không phải làm một cách máy móc, mù quáng…Đúng như chương trình giáo dục phổ thông của Inđonesia đã xác định: "Năng lực (competence) là những kiến thức (knowledge), kỹ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kỹ năng và các giá trị cơ bản" (CT giáo dục của Indonesia) Từ những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: "Năng lực là khả năng giải quyết (thực hiện) một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra của cuộc sống trên cơ sở hiểu biết về lí thuyết (nhận thức) của đối tượng. Năng lực là nói đến khả năng đạt được một kết quả nhất định của một công việc cụ thể do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực lao động, năng lực quan sát…). Năng lực không tồn tại chung chung trìu tượng.
Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của nhân cách, là điểm hội tụ của các yếu tố như tri thức, kĩ năng, thái độ, kinh nghiệm, sẵn sàng hành động, trách nhiệm đạo đức. Năng lực không chỉ dừng ở hiểu biết của con người mà quan trọng là sự ứng dụng nó bằng những hoạt động cụ thể trên cơ sở vận dụng kiến thức, kĩ năng phù hợp. Năng lực không phải là cái có sẵn, mang tính bẩm sinh mà bẩm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c sinh con người chỉ có những tư chất của năng lực. Những tư chất này sẽ dần dần hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động.
Hoạt động là cơ sở, là điều kiện cần thiết cho sự hình thành và phát triển năng lực. Nếu không tổ chức hoạt động và con người không hoạt động thì năng lực không thể bộc lộ và phát triển". Năng lực nhận diện lịch sử: Nhận diện lịch sử có vai trò rất quan trọng trong hoạt động lĩnh hội tri thức Lịch sử của con người. Nhận diện là cơ sở, nền tảng cho mọi sự hiểu biết của con người.
Có nhận diện đúng đắn mới có thể tiến hành tốt các hoạt động, cải thiện được bản thân, phục vụ nhu cầu của mình trong việc lĩnh hội tri thức. Nhận diện lịch sử được hình thành trong quá trình nghiên cứu lịch sử. Đây là một nhu cầu mang tính đặc thù, tuyệt đối chỉ có ở con người Năng lực nhận diện là khả năng nhận biết đúng sự vật, sự việc với một lượng thông tin tối thiểu về các sự vật, sự việc đó. Năng lực nhận diện được đánh giá bằng tỷ lệ giữa lượng thông tin mà sự vật, sự việc cung cấp cho hệ thần kinh với toàn bộ thông tin về sự vật, sự việc đó.
Tỷ lệ này càng thấp thì năng lực nhận diện càng cao. Trong một đơn vị thời gian nào đó, hệ thần kinh chỉ có thể tiếp nhận một lượng thông tin giới hạn, vì vậy những sự vật, sự việc càng phức tạp thì càng khó nhận diện. Để đánh giá năng lực nhận diện có thể áp dụng việc cung cấp thông tin về một sự vật hay một sự việc nào đó trong một đơn vị thời gian. Từ đó ta có thể khẳng định rằng "nhận diện lịch sử" là phân biệt được các loại hình tư liệu lịch sử (văn bản, hiện vật lịch sử, tranh ảnh, biểu đồ, bản đồ, sử liệu dân gian, truyền miệng…).
Nhận diện lịch sử của học sinh được xây dựng dựa trên các sự kiện lịch sử có thật được thu thập từ các tư liệu lịch sử, các tài liệu tham khảo xác thực. Đó chính là tính khoa học của nhận diện lịch sử mà Kato gọi là tính "thực chứng", "logic". Năng lực sử dụng tư liệu lịch sử Trong nghiên cứu và học tập Lịch sử, năng lực sử dụng tư liệu đóng vai trò quan trọng làm nên các công trình nghiên cứu Lịch sử và sự tồn tại của Khoa học Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c Lịch sử. Việc xác định khái niệm tư liệu lịch sử có rất nhiều quan điểm khác nhau: Nhà sử học người Nga Chi-khơ-mi-rốp cho rằng tư liệu lịch sử là tất cả những gì còn sót lại của cuộc sống đã qua.
Trong phương diện Triết học thì tư liệu lịch sử là khái niệm phản ánh đặc tính của hiện vật có thể được để thu nhận tri thức của hiện vật khác. Theo phương diện xã hội, tư liệu là một phương diện để bảo tồn, lưu giữ, truyền bá. Rê-ban cho rằng tư liệu lịch sử là tổng hợp thành quả từ hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng phương diện xã hội. Trong bách khoa toàn thư, tư liệu lịch sử là những gì phản ánh trực tiếp quá khứ.
Xuất phát từ các quan điểm trên về tư liệu lịch sử thông qua thực tế giảng dạy và trong phạm vi của đề tài, chúng tôi thiết nghĩ giải thích một cách dễ hiểu nhất, "năng lực sử dụng tư liệu lịch sử" là "tế bào" cấu tạo nên sự tồn tại của Khoa học Lịch sử và các công trình nghiên cứu Lịch sử. Bởi lẽ tư liệu lịch sử chứa đựng các sự kiện, tài liệu mà mỗi giáo viên cần phải nhận thức, sưu tầm để tìm hiểu quá trình lịch sử đang học một cách chính xác, khách quan và toàn diện hiện thực lịch sử đã xảy ra trong quá khứ. Tư liệu lịch sử càng sinh động, phong phú bao nhiêu thì sự kiện càng cụ thể và càng hay bấy nhiêu. Thiết nghĩ, trong giảng dạy lịch sử, điều kiện cơ bản nhất để tái tạo hình ảnh quá khứ là tư liệu lịch sử.
Nếu không có nguồn tư liệu phong phú, không cung cấp được nguồn tư liệu cụ thể chân thực thì dù có vận dụng phương pháp giảng dạy nào đi chăng nữa cũng không thể đạt được hiệu quả như mong muốn. Phát triển năng lực nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử trong dạy học Lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, con người ngày càng có nhu cầu nhận diện đúng chân lí khách quan. Nhu cầu này thể hiện ở chỗ tư duy con người luôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c luôn vươn tới nắm bản chất của các sự vật, hiện tượng xã hội. Chính trong quá trình đó, con người tự hoàn thiện mình và làm cho hành động của mình ngày càng trở nên hợp lý, đúng đắn, có hiệu quả.
Nhận diện và hành động bao giờ cũng quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau để cho con người ngày càng phát triển. Bộ môn Lịch sử có thể chứng minh rằng bằng những sự kiện cụ thể về việc con người có khẳ năng nhận thức tự nhiên, xã hội, bản thân mình và năng lực sử dụng những tri thức thu nhận được vào đấu tranh xã hội tự nhiên. Bản thân quá trình phát triển xã hội loài người là quá trình phát triển biện chứng của hiện thực khách quan và sự nhận diện Lịch sử cũng là quá trình hoạt động biện chứng tuân theo những quy luật khách quan. Nhận diện Lịch sử là yêu cầu của bản thân trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Ban đầu, ý thức của lịch sử con người mới chỉ là những quan niệm về nguồn gốc, tổ tiên, quê hương…được phản ánh trong các truyền thuyết, thần thoại, truyện cổ tích…Qua thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, nhận diện của con người về Lịch sử ngày càng chính xác và sâu sắc.