phần mở đầu, kết luận; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về kĩ năng thống kê của học sinh THCS Chƣơng 2. Các biện pháp rèn luyện kĩ năng thống kê cho học sinh THCS trong dạy học thống kê ở Toán 7 Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC V K NĂNG THỐNG KÊ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tóm tắt về kĩ năng 1. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa về khái niệm kĩ năng Trƣớc hết, về khái niệm năng lực: - Theo GS. Phạm Minh Hạc thì: Năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lí của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lí của một nhân cách), tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy. [12] - Nhƣ vậy là năng lực (NL) đƣợc xem xét trong mối quan hệ với dạng hoạt động nào đó, không thể có loại NL không để làm gì cả.
NL đƣợc cấu thành trƣớc hết từ những bộ phận: 1) Tri thức về lĩnh vực hoạt động; 2) Kĩ năng tiến hành hoạt động hay ứng xử trong quan hệ nào đó; 3) Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng trên. Ở đây, chúng ta quan tâm tới khái niệm kĩ năng. Nhiều nhà khoa học đã đƣa ra khái niệm này, chẳng hạn: - Từ điển Tiếng Việt: "Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận đƣợc trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế".426]; - Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Kĩ năng là giai đoạn trung gian giữa tri thức và kĩ xảo trong quá trình nắm vững một phƣơng thức hành động… đƣợc hình thành do luyện tập hay do bắt chƣớc”.549-550]; - Theo tác giả Lê Văn Hồng, trong cuốn Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sƣ phạm, cho rằng: “Kĩ năng - khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phƣơng pháp.) để giải quyết một nhiệm vụ mới”.131]; - Nhiều nhà Tâm lí học xác định: Kĩ năng là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện 8 những thuộc tính, bản chất của các sự vật và giải quyết thành công các nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định; - Trong cuốn tâm lí học cá nhân A.Côvaliôv quan niệm: “Kĩ năng là phƣơng thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động”. Ông không đề cập đến kết quả của hành động.
Theo ông, kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, quan trọng hơn cả là năng lực của con ngƣời chứ không đơn giản là cứ nắm đƣợc cách thức hành động thì đem lại hiệu quả tƣơng ứng; - Tóm lại, các định nghĩa trên (và nhiều định nghĩa khác nữa) tuy không hoàn toàn giống nhau về mặt từ ngữ nhƣng đều xác định kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó. Các đặc điểm của kĩ năng Phân tích các khái niệm về KN đã nêu, có thể thấy rằng: - Bất kì một loại KN nào đó cũng phải dựa trên cơ sở lý thuyết, đó chính là kiến thức, bởi cấu trúc của KN bao gồm: Hiểu mục đích - biết cách thức đi đến kết quả - hiểu các điều kiện để triển khai những cách thức đó. - Kiến thức là cơ sở của KN khi kiến thức đó phản ánh đầy đủ các thuộc tính bản chất của đối tƣợng, đƣợc thử nghiệm trong thực tiễn và tồn tại trong ý thức với tƣ cách của hành động. Thực tiễn giáo dục cho thấy, nếu không đƣợc rèn luyện thƣờng xuyên thì: 1) Học sinh s gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng những khái niệm và kiến thức đã lĩnh hội đƣợc để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể; 2) Học sinh thƣờng không xác định đƣợc dấu hiệu bản chất của đối tƣợng, từ đó không phát hiện ra đƣợc mối quan hệ bản chất giữa tri thức đã có với đối tƣợng đó.
Lúc này, tri thức không biến thành công cụ của hoạt động nhận thức, và nhƣ vậy khối kiến thức khô cứng, không gắn với thực tiễn và không biến thành cơ sở của kĩ năng; 9 3) Mặt khác, có nhiều học sinh không nắm vững lý thuyết nên không biết vận dụng đƣợc lý thuyết đó và bài tập, không biết sử dụng lý thuyết nào vào bài toán nào, bài toán nào cần dùng kiến thức nào để giải quyết. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng Từ các khái niệm, đặc điểm của KN và các tài liệu khác, cho thấy: - Để hình thành đƣợc một kĩ năng nào đó của một ngƣời; trƣớc hết ngƣời đó cần có mục tiêu sử dụng kĩ năng; cần có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng r cho đến khi thực hiện đƣợc hành động theo đúng mục đích yêu cầu. - Mặt khác, kĩ năng chỉ đƣợc hình thành thông qua quá trình tư duy để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra. Khi tiến hành tƣ duy về các sự vật, hiện tƣợng thì chủ thể thƣờng phải biến đổi phân tích đối tƣợng để tách ra các khía cạnh và những thuộc tính mới.
Quá trình tƣ duy diễn ra nhờ các thao tác phân tích, tổng hợp, trừu tƣợng hóa và khái quát hóa cho đến khi hình thành đƣợc mô hình về mặt nào của đối tƣợng mang ý nghĩa bản chất. - “Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó”. [20] Ghi chú: Nhiều nhà khoa học khẳng định rằng thái độ làm việc mới là yếu tố tiên quyết dẫn tới thành công trong công việc chứ không phải là mức độ thông minh.
Chúng tôi đồng tình với sự xác định của các nhà khoa học: Kĩ năng có mối liên hệ chặt ch tới kiến thức, tư duy và thái độ [9], [11]. Kĩ năng toán học và kĩ năng thống kê nói riêng cũng không ngoại lệ. Vì vậy, cùng với việc tập trung trình bày về kĩ năng thống kê, chúng tôi cũng nêu vắn tắt về kiến thức, tư duy và thái độ. Tóm tắt về thống kê 1.
Thống kê học Theo tác giả Ngô Thị Thuận (trong Quantri.vn) thì: - Thống kê học là hệ thống các phương pháp dùng để thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của hiện tượng kinh tế - xã hội để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể. - Tất cả các công việc từ theo dõi diễn biến của các hiện tượng, ghi chép tài liệu - tổng hợp tài liệu ở phạm vi rộng hơn, phân tích rút ra kết luận về bản chất, tính quy luật và đề ra các biện pháp chỉ đạo. là một quá trình nghiên cứu thống kê. Theo [21, Tập 4, tr.255 thì: THỐNG KÊ HỌC khoa học nghiên cứu về mặt lượng trong mối quan hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng xã hội, trong những điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.
TKH có một lịch sử phát triển khá lâu đời. Vào khoảng giữa thế kỉ 17, ở Tây Âu đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống về TKH, như cuốn “Số học chánh trị” của nhà kinh tế học Anh Petry (W. Petry; 1623 - 87), các công trình của các nhà kinh tế học như Cônrinh (H. Achenwall; 1719 - 72) đã đặt tên cho môn học mới này là Statistic, về sau thuật ngữ này được đưa vào ngôn ngữ của nhiều nước phương Tây để chỉ TKH.
Trên quan điểm duy vật biện chứng, TKH phải nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội không những trong trạng thái tĩnh mà cả trong quá trình vận động của chúng, trong mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau. Các phương pháp và chỉ tiêu thống kê thể hiện các phạm trù của phép duy vật biện chứng, như: lượng và chất, ngẫu nhiên và tất nhiên, cái riêng và cái chung, nguyên nhân và kết quả, vv. Trong đời sống xã hội, TKH có nhiều bộ môn: lịch sử thống kê, lí luận chung của TKH, thống kê kinh tế, thống kê từng ngành (công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, xây dựng cơ bản, vv. 11 Theo tác giả Trần Đức Chiển đã công bố trong [9] thì: - Thống kê học là ngành khoa học có nguồn gốc lịch sử phát triển từ thời cổ đại.
Đó là cả một quá trình lâu dài tích luỹ kinh nghiệm từ giản đơn đến phức tạp, đƣợc đúc kết dần thành lý luận khoa học ngày càng hoàn thiện: “Thống kê học là khoa học, kĩ thuật hay nghệ thuật của việc rút thông tin từ dữ liệu quan sát nhằm giải quyết các bài toán từ thực tế cuộc sống”. - Có thể phân loại khoa học TK theo mức độ nghiên cứu: TK mô tả, TK suy đoán (có thể xem TK toán học là một bộ phận của TK suy đoán). Có thể nêu ra năm giai đoạn hình thành, phát triển của khoa học TK nhƣ sau: Giai đoạn 1: Từ thời chiếm hữu nô lệ, các chủ nô đã tiến hành ghi chép, TK tài sản của họ (số nô lệ, súc vật, công cụ lao động. TK ở giai đoạn này còn rất đơn giản.
Giai đoạn 2: Dƣới chế độ phong kiến, TK đã phát triển ở hầu hết các nƣớc thuộc châu Á, châu Âu.Việc TK tài sản, ruộng đất, nhân khẩu. chủ yếu phục vụ cho giai cấp thống trị. TK phát triển hơn giai đoạn 1 nhƣng chƣa đƣợc đúc kết thành lí luận. Giai đoạn 3: Cuối thế kỉ 17 - đầu thế kỉ 18.
Chủ nghĩa tƣ bản ra đời. TK phát triển nhanh chóng. Tài liệu về khoa học TK đƣợc xuất bản, lí luận TK bắt đầu đƣợc dạy trong trƣờng học. Giai đoạn 4: Từ thế kỉ 18 - đầu thế kỉ 20, sự hình thành và phát triển của Lý thuyết XS hiện đại đã cho ra đời ngành toán học ứng dụng: Thống kê toán học.
12 Giai đoạn 5: Đầu thế kỉ 20 - ngày nay, sự xâm nhập lẫn nhau giữa Lý thuyết XS và Giải tích hàm đƣa lại cho TK toán học nhiều ứng dụng to lớn. TK toán học trở thành ngành khoa học có lí luận chặt ch và có ứng dụng rộng rãi. - Lý thuyết XS là bộ môn toán học nghiên cứu những quy luật ẩn giấu trong đám đông những hiện tƣợng ngẫu nhiên: “Lý thuyết xác suất nhằm tìm ra những quy luật trong những hiện tượng “tưởng chừng” như không có quy luật”.