Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học thông qua dạy học chủ đề “các trường hợp bằng nhau của tam giác” cho học sinh lớp 7 Trung học cơ sở. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 7 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VA THUC TIEN 1.
Một số vấn đề về năng lực Năng lực là khái niệm có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: - Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách có tổ chức và linh hoạt các kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,. nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định, thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo) được thể hiện thông qua các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có [6]. - Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn để, các tình huống thay đổi thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm tích lũy của bản thân trong trạng thái san sàng hành động [8]. - Trong từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng làm tốt công việc [12].
- Năng lực phải được thể hiện qua các hoạt động đem lại kết quả, có thể đánh giá hoặc đo đạc được [26]. - Năng lực là khả năng mỗi cá nhân đáp ứng được các yêu cầu và thực hiện thành công nhiệm vụ trong hoàn cảnh cụ thé [31]. - Năng lực là kỹ năng, kỹ xảo học được hoặc sẵn có của mỗi cá nhân sẵn sàng hành động giải quyết các tình huống cụ thể,. và khả năng vận dụng để giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống được đặt ra [31].
Tuy có nhiều cách lý giải khác nhau về khái niệm năng lực, nhưng tựu chung đều nói về khả năng chủ thế có thể thực hiện được một hành động cu thể nào đó. Trong luận văn này, chúng tôi nhất trí với khái niệm năng lực được phát biểu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thé. 8 - Theo [5], năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và tích lũy trong quá trình học tập, rèn luyện, cho phép huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một hoặc nhiều hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong điều kiện cu thé.
Người học có năng lực hành động về loại hay lĩnh vực nào đó cần hội đủ các đặc điểm sau: - Có kiến thức, kĩ năng về loại hay lĩnh vực đó. - Biết cách xây dựng kế hoạch và tiến hành hoạt động hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với mục đích. - Hành động có kết quả, xử lí một cách linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc. Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ.
phù hợp với lứa tuổi và đặc điểm bản thân, vận hành chúng một cách hợp lí dé thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra trong cuộc sống của chính các em. Năng lực toán học Năng lực toán học được cho là có mối quan hệ mật thiết với hoạt động trực giác và sự sáng tạo toán học của người nghiên cứu. Chính vì vậy, khi tham gia nghiên cứu quá trình sáng tạo của các nhà toán học, J. Addamaa đã chỉ ra rằng quá trình sáng tạo toán học gồm 4 giai đoạn, ứng với mỗi giai đoạn là các đặc điểm riêng gồm giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn ấp ủ, giai đoạn bừng sáng và giai đoạn kiểm chứng.
Ý thức con người đạt đến trình độ cao tự khắc nảy sinh sự sáng tạo, điều đó biểu thị mức độ phát triển cao trong nhận thức mỗi con người. Theo [5], các năng lực toán học cần hình thành và phát triển cho học sinh trung học cơ sở bao gồm các thành tố sau: Năng lực tư duy và lập luận toán học: 9 - Thực hiện được các thao tác tư duy, đặc biệt biết quan sát, giải thích được sự tương đồng và khác biệt trong nhiều tình huống và thể hiện được kết quả của việc quan sát. - Thực hiện được việc lập luận hợp lí khi giải quyết van dé. - Trong quá trình lập luận, cá nhân đặt được câu hỏi và trả lời được câu hỏi, giải quyết vấn đề, chứng minh được nội dung toán học không quá phức tạp.
Năng lực mô hình hóa toán học: - Sử dụng các mô hình toán học (gồm công thức toán học, bảng, hình vẽ, sơ đồ, phương trình, hình biểu diễn,.) để diễn tả tình huống xuất hiện trong một số bài toán thực tế không quá phức tạp. - Giải quyết được những vấn đề toán học trong hoạt động được thiết lập. - Thể hiện được lời giải toán học vào ngữ cảnh thực tiễn và làm quen với việc kiểm chứng tính đúng đắn của lời giải. Năng lực giải quyết vấn đề toán học: - Phát hiện được vấn đề.
- Xác định được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề. - Sử dụng được một cách hợp lí các kiến thức, kĩ năng toán học đề giải quyết vấn đề. - Giải thích được giải pháp đã thực hiện. Năng lực giao tiếp toán học: - Nghe, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin cơ bản của toán học, những vấn đề trọng tâm trong văn bản.
Từ đó phân tích, lựa chọn, trích xuất được các thông tin toán học cần thiết từ văn bản. - Thực hiện được việc trình bày, diễn đạt, đặt câu hỏi, thảo luận, tranh luận, phản biện các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác với cá nhân khác. - Sử dụng kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ thông thường với ngôn ngữ toán học nhằm biểu đạt các nội dung toán học cũng như thể hiện chứng cứ, cách thức và kết quả lập luận. 10 - Thể hiện được sự tự tin khi tham gia trình bày, diễn đạt, thảo luận, tranh luận, giải thích các nội dung toán học không quá phức tạp.
Năng lực sử dụng phương tiện, công cụ trong học tập môn toán: - Nhận biết được tên gọi, tác dụng, cách sử dụng, bảo quản các phương tiện, công cụ toán học. - Trình bày được cách sử dụng phương tiện, công cụ toán học để thực hiện nhiệm vụ học tập hoặc để trình bày những lập luận, chứng minh toán học. - Sử dụng máy tính cầm tay, các phần mềm tin học và phương tiện công nghệ hỗ trợ quá trình học tập. - Nhận biết được ưu điểm, nhược điểm của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí phù hợp với yêu cầu cụ thẻ.
Năng lực giải quyết vấn đề toán học Năng lực trí tuệ là những kiến thức thực sự sâu rộng của cá nhân có được và khả năng vận dụng những kiến thức đó trong công việc và cuộc sống, gồm 8 tri thông minh: năng khiếu ngôn ngữ, tính toán, hình ảnh, thân thể, âm nhạc, ngoại giao, nội cảm và thiên nhiên. Chính vì vậy chúng tôi đồng ý với nhận định sau: “Năng lực giải quyết vấn đề toán học là hoạt động học tập có trình độ phức tạp và cao nhất về nhận thức vì cần phải huy động tất cả các năng lực trí tuệ vốn có của mỗi cá nhân. Để giải quyết vấn đề, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, kiến thức, lý luận, ngôn ngữ, đồng thời thể hiện cảm xúc, động cơ, niềm tin ở năng lực bản thân và khả năng kiểm soát được tình thế" [23]. Những thành tố của năng lực giải quyết vấn đề toán học Theo [5], cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề toán học dự kiến phát triển ở học sinh cấp trung học cơ sở gồm 4 thành tố với mức độ yêu cầu cu thé như sau: - Phát hiện được vấn đề cần giải quyết: Nhận biết vấn đề, phát hiện được tình huống có vấn đề.
- Xác định được cách thức, giải pháp giải quyết van dé: Lựa chọn, sắp xếp, tổng hợp thông tin với kiến thức đã học. Xác định được thông tin, tìm hiểu các vấn 11 để có liên quan, từ đó xác định cách thức, quy trình, xây dựng chiến lược giải quyết và thống nhất cách hành động. - Sử dụng các kiến thức, kỹ năng tương thích của toán học đề giải quyết vấn đề: Thiết lập tiến trình thực hiện (thu thập thông tin, số liệu, thảo luận, xin ý kiến, giải quyết mục tiêu, .) và thời điểm giải quyết từng mục tiêu. Thực hiện và trình bày giải pháp, điều chỉnh kế hoạch phù hợp với thực tiễn và không gian có vấn đề một cách linh hoạt khi có sự thay đổi.
- Giải thích được giải pháp đã thực hiện: Giải thích và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề. Suy ngẫm về cách thức và tiến trình đã thực hiện. Từ đó, điều chỉnh và vận dụng trong tình huống mới, xác nhận những kiến thức và kinh nghiệm thu được sau quá trình thực hiện, đề xuất giải pháp cho những vấn đề tương tự. Một số phương pháp dạy học góp phần giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề 1.
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 1. Đặc điểm của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề Theo [1]: “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là tổ chức tạo ra tình huống có chứa đựng vấn đề. Trong quá trình hoạt động, học sinh sẽ phát hiện ra vấn để, có nguyện vọng giải quyết và giải quyết được vấn đề, nhờ đó nâng cao được trình độ kiến thức, kinh nghiệm và tư duy”. Hình thức tô chức dạy học phát hiện và giái quyết vấn đề Theo [10], cốt lõi của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là sự điều khiển của giáo viên trong quá trình tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh nghiên cứu và giải quyết vấn đề.
Đề thực hiện phương pháp này cần tiến hành theo 4 bước: Bước 1: Phát hiện thâm nhập vấn đề. Từ một tình huống do giáo viên đặt ra, học sinh có thể liên tưởng đến các cách suy nghĩ, tìm tòi, dự đoán, phát hiện tình huống có vấn đề. Sau đó giáo viên giải thích, chính xác hóa vấn đề, học sinh phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết chính vấn đề đó.