phần mở đầu, kết luận, phụ lục, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trƣờng THCS vì sự tiến bộ của học sinh. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trƣờng THCS Thọ Lộc, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội vì sự tiến bộ của học sinh Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trƣờng THCS Thọ Lộc, Phúc Thọ, Hà Nội vì sự tiến bộ của học sinh 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÌ SỰ TIẾN BỘ CỦA HỌC SINH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ngoài nước Đầu thế kỷ XVI, nhà giáo dục vĩ đại J.A Comenxki (1592-1670) đã đƣa ra mô hình nhà trƣờng và đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng.
Đó là nhà trƣờng đƣợc phân theo cấp học, bậc học ở những lứa tuổi nhất định; các môn học trong nhà trƣờng đƣợc quy định chặt chẽ có chƣơng trình, có nội dung cụ thể thống nhất; thời gian đào tạo cũng đƣợc ấn định, đƣơng nhiên cách kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng đƣợc quy định rõ ràng [15]. Đến thế kỷ XVIII thì hệ đánh giá chất lƣợng đầu tiên đƣợc áp dụng phổ biến trong nhà trƣờng. Lúc đầu hệ đánh giá có 3 bậc chính: Tốt - Trung bình - Kém. Tuy nhiên để đánh giá đƣợc theo 5 bậc chất lƣợng học sinh thì phải kiểm tra nhƣ thế nào để đánh giá đƣợc chính xác, phù hợp với đối tƣợng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lƣợng dạy và học mới là vấn đề đƣợc các nhà giáo dục quan tâm.
Từ những năm 1970 trở lại đây có rất nhiều công trình nghiên cứu từng vấn đề cụ thể, trong đó xác định một cách khoa học nội dung đánh giá kết quả của học sinh nhƣ: Những vấn đề lý luận dạy học của việc đánh giá trí thức (V.Palomxki); con đƣờng hoàn thiện việc kiểm tra tri thức kỹ năng (X. Cũng trong giai đoạn này nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu các nguyên tắc của việc kiểm tra đánh giá nhằm đảm bảo tính khách quan nhƣ: Các hƣớng nâng cao tính khách quan trong việc đánh giá tri thức học sinh (A. Trong nước Nền giáo dục Việt Nam đã trải qua 3 lần cải cách, với mỗi lần mục tiêu giáo dục đào tạo đƣợc điều chỉnh cho phù hợp với tình hình đất nƣớc. Đặc biệt là trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển giáo dục - đào tạo, hoạt động nghiên cứu KTĐG; nghiên cứu công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá có những phát triển mới.
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu về quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng kiểm tra đánh giá góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học. Một số tài liệu về kiểm tra đánh giá trong lĩnh vực giáo dục nhƣ: “Đánh giá và đo lƣờng kết quả học tập [Trần Thị Tuyết Oanh, NXB Đại học sƣ phạm (2007)] đã cung cấp những vấn đề chung về và những thực hành về đánh giá, đo lƣờng trong giáo dục nói chung và đánh giá kết quả học tập nói riêng; “Trắc nghiệm và đo lƣờng thành quả học tập” tập 2 [Dƣơng Thiệu Tống (1998)] trình bày những nguyên lý căn bản về đo lƣờng và các phƣơng pháp thực hành, từ khâu soạn thảo và thử nghiệm các câu hỏi đến việc hình thành những bài trắc nghiệm ở lớp học hay trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa. “Nghiên cứu cải tiến quy trình tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại khoa du lịch – Viện Đại học mở Hà Nội” [Lê Quỳnh Chi (tr 8)] đã nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý và kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Phân tích thực trạng “quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội” [33].
Đề xuất “cải tiến quy trình tổ chức kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại Khoa Du lịch - Viện Đại học Mở Hà Nội” nhằm nâng cao hơn nữa chất lƣợng KTĐG kết quả học tập của sinh viên [52]. Tại luận văn này, tác giả Lê Quỳnh Chi cũng đã nêu ra điểm hạn chế trong quy trình tổ chức kiểm tra đánh giá là “nếu chỉ đánh giá bằng điểm số, đánh giá một lần và mà không đánh giá theo cả quy trình thì sự chính xác trong đánh giá là chƣa cao, không khuyến khích đƣợc sự học tập của ngƣời học, dẫn đến học lệch, học tủ”[19]. “Biện pháp quản lý công tác kiểm tra đánh giá kết 9 quả học tập của sinh viên trƣờng Cao đẳng du lịch Hà Nội” [68] nêu ra những hạn chế nhất định trong công tác quản lý KTĐG đặc biệt ở kỹ thuật KTĐG trong yếu tố con ngƣời, đồng thời tác giả cũng đề xuất các biện pháp quản lý KTĐG nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục, chất lƣợng KTĐG. Do vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu này đáp ứng yêu cầu dạy và học tại trƣờng THCS Thọ Lộc, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
Một số khái niệm 1. Quản lý Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, đƣợc ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia và mọi thời đại. Từ điển Tiếng Việt viết: “Quản lý là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung”[29].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [11]. Nhƣ vậy, Quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thƣờng có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và đƣợc thể hiện bằng các thuật ngữ khác nhau. Thực chất của Quản lý là gì? Cũng có những quan điểm không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học, Quản lý cơ bản đã đƣợc làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất.
Quản lý bao gồm các yếu tố: - Phải có chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và một đối tƣợng bị quản lý. Đối tƣợng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý. Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần. - Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tƣợng.
Mục tiêu này là căn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động. Chủ thể quản lý có thể là một ngƣời, nhiều ngƣời. 10 Còn đối tƣợng bị quản lý có thể là ngƣời hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin.) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng). Quản lý là “sự công tác liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể (ngƣời quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tƣợng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng”.
Đối tƣợng quản lý có thể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con ngƣời, sự vật cụ thể. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp ngƣời, công cụ, phƣơng tiện tài chính,… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trƣớc. Chủ thể muốn kết hợp đƣợc các hoạt động của đối tƣợng theo một định hƣớng quản lý đặt ra phải tạo ra đƣợc “quyền uy” buộc đối tƣợng phải tuân thủ. Quản lý là “sự tác động chỉ huy, điều khiển, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời nhằm đạt tới mục đích đã đề ra”.
Sự tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để ngƣời chịu quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Quản lý là một môn khoa học sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhƣ: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lí và xã hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích. Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tƣợng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là con ngƣời trong tổ chức, thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất (vốn, vật tƣ, công nghệ) để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hành động. Vì vậy khi xét về thực chất quản lý trƣớc hết và chủ yếu là quản lý con ngƣời.
Nhƣ vậy quản lý luôn tồn tại với tƣ cách là hệ thống gồm các thành tố cơ bản sau: - Chủ thể quản lý: Là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hƣớng đích, có chủ định đến đối tƣợng quản lý. 11 - Đối tƣợng quản lý: Là những đối tƣợng chịu tác động và thay đổi dƣới những tác động hƣớng đích có chủ định của chủ thể quản lý. Đối tƣợng quản lý là con ngƣời trong tổ chức và các yếu tố đƣợc sử dụng là nguồn lực của tổ chức “Thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện”. Đối tƣợng quản lý bao giờ cũng tồn tại trong một khách thể quản lý xác định.
- Khách thể quản lý: Là cơ sở khách quan của đối tƣợng quản lý. Trong quan hệ với chủ thể quản lý, đối tƣợng quản lý luôn là cái khách quan, thuộc hiện thực bên ngoài chủ thể quản lý. - Cơ chế quản lý: Là phƣơng thức vận động hợp quy luật của hệ thống quản lý, mà trƣớc hết là sự tác động lẫn nhau một cách hợp quy luật trong quá trình quản lý. Cơ chế quản lý có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phƣơng thức hoạt động hợp với quy luật khách quan cho hoạt động quản lý.