CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC PHÂN HÓA Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về da ̣y ho ̣c phân hóa * Trên thế giới Trong nghiên cứu của Randall S. Ward; AM Bloom (1983), I.
Các công trình đã tập trung nghiên cứu về giáo dục và dạy học phân hóa từ nhiều góc độ: phương pháp, kĩ thuật, kết quả, hiệu quả phân hóa,. ở các đối tượng khác nhau. Nhìn chung, phân hóa trong giáo dục được quan niệm ở hai cấp độ chính: - Phân hóa vĩ mô: thực hiện theo các chương trình giáo dục khác nhau và tổ chức thành các loại hình trường khác nhau. - Phân hóa vi mô: thực hiện chương trình giáo dục cho mọi học sinh với mục tiêu thống nhất (các nội dung dạy học bắt buộc), đồng thời đáp ứng sự khác biệt giữa các cá nhân (thông qua các nội dung tự chọn) nhằm cá nhân hóa quá trình giáo dục.
Các nước phát triển đã thực hiện phân hóa trong giáo dục theo các phương thức tổ chức dạy học cụ thể như sau: - Phương thức tự chọn: ra đời trước thế kỉ XVIII ở châu Âu, chương trình học bao gồm nhóm các môn học bắt buộc cho mọi học sinh và các môn học tự chọn đáp ứng sự khác biệt về sở thích, hứng thú, năng lực cá nhân. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, xu thế “Giáo dục hướng tới cá nhân” đã cho ra đời loại hình trường học tự chọn đầu tiên ở Mĩ và ngày nay đang được áp dụng rộng rãi ở một số nước như Anh, Nhật Bản, Singapore,… - Phương thức phân ban: ra đời từ thế kỉ XVIII ở trường trung học Pháp, với đặc điểm: mỗi trường được học theo một số ban đã được quy định 6 trong toàn quốc, mỗi ban khác nhau về số môn học, cấu trúc, nội dung. Phân hóa theo phương thức này dễ quản lí nhưng kém mềm dẻo, khó đáp ứng nhu cầu phân hóa đa dạng về hứng thú và năng lực người học. - Phương thức phân ban kết hợp với tự chọn: theo đó, học sinh vừa được sắp xếp vào các ban khác nhau, vừa được chọn một số môn học và giáo trình tự chọn.
Phương thức này được nhiều nước trên thế giới áp dụng như: Đức, Pháp, Tây Ban Nha,… Tuy nhiên qua khảo sát tư liệu về chương trình GDPT của nhiều nước, trong thời gian gần đây, nhìn chung các nước thực hiện phân hóa bằng hình thức dạy học tự chọn là chủ yếu. Các nước cũng rất quan tâm đến phân hóa sâu bằng hình thức đào tạo HS giỏi, học sinh tài năng. Dạy học phân hóa đã được nghiên cứu và vận dụng từ lâu ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Tác giả Gibson đã viết: “Dạy học phân hóa không phải là một xu thế dạy học mới và cũng không phải là một quan niệm mới về dạy học” [41].
Những nghiên cứu về dạy học phân hóa được bắt đầu từ lâu trên cơ sở những nghiên cứu đi trước. Một số lý thuyết về dạy học phân hóa trên thế giới như sau: Lý thuyết xã hội học của quá trình dạy học: Lý thuyết này dựa trên tiền đề cho rằng mỗi cá nhân học sinh phải được học tập trong một xã hội cụ thể và bối cảnh văn hóa nhất định. Lý thuyết về vùng phát triển gần nhất: Theo lý thuyết của Vygotsky, trình độ ban đầu của HS tương ứng với “vùng phát triển hiện tại”. Trình độ này cho phép HS thu được những kiến thức gần gũi nhất với kiến thức cũ để đạt được trình độ mới cao hơn.
- Lý thuyết về tính đa dạng của nhu cầu nhận thức: Tomlinson, một chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này xác định, dạy học phân hóa là một triết lý dạy học dựa trên tiền đề cho rằng HS học tốt nhất khi giáo viên điều chỉnh quá trình dạy học phù hợp với trình độ, sở thích và 7 phong cách học tập của các em. Mục tiêu chính của dạy học phân hóa là nhằm tối đa hóa khả năng học tập của HS. - Thuyết về đa trí tuệ Năm 1983, tiến sĩ Howard Gaded- một hà tâm lí học của đại học Harvard đã công bố nghiên cứu của mình về sự đa dạng của trí tuệ con người và đề cập đến sự tồn tại của ít nhất là 7 dạng trí tuệ gồm: trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ logic- toán học, trí tuệ hình thể- động năng, trí tuệ không gian, trí tuệ giao tiếp và trí tuệ nội tâm. Thuyết đa trí tuệ là cơ sở nền tảng của mô hình dạy học phân hóa [24].
* Ở Việt Nam Vấn đề phân hóa đã đươc thực hiện trong quá trình phát triển của hệ thống giáo dục phổ thông Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Trong giai đoạn 1945-1950, giáo dục phổ thông được thực hiện theo các ban (ví dụ, cấp trung học chuyên khoa chia thành 4 ban: vạn vật học, toán pháp và lí hóa học, sinh học, Hán tự). Sau 1954, với yêu cầu “dạy học phải phù hợp với mọi đối tượng nhận thức” và chủ trương “đã dạng hóa các loại hình trường phù hợp với hứng thú, năng lực học sinh” đã tạo điều kiện cho các loại hình trường chuyên, lớp chọn,… ra đời. Những năm 80, thực hiện Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương khóa IV-1979, Bộ GD&ĐT đã tổ chức thí điểm mô hình trường THPT với 5 ban (lần 1, 1988 - 1990) và 3 ban (lần 2, 1993-2000).
Ngày 01/09/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 30/CT- TTg yêu cầu điều chỉnh mô hình phân ban theo hướng xây dựng chương trình phân ban THPT với “nội dung dựa trên một chương trình chuẩn và đảm bảo tính phổ thông, toàn diện, hướng nghiệp. Trước mắt phân thành hai ban: Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội và nhân văn. Chênh lệch kiến thức tương ứng của các môn học có phân hóa giữa hai ban khoảng 20%”. Bộ GD&ĐT đã thí điểm mô hình trường THPT phân ban theo yêu cầu trên từ năm học 2003- 2004 (lần 3), đã hoàn chỉnh mô hình thí điểm và triển khai đại trà CT&SGK 8 lớp 10 vào năm học 2006-2007 theo hình thức: phân ban sớm (từ lớp 10), phân ban rộng với 3 ban (KHTN, KHXH&NV, Cơ bản), kết hợp dạy học tự chọn, đảm bảo thực hiện phân hóa sâu hơn.
Cùng với việc thực hiện phân hóa trong giáo dục, trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhằm cung cấp cơ sở khoa học và các giải pháp triển khai thực hiện phân hóa khi triển khai chương trình và sách giáo khoa mới. Có thể kể đến các đề tài nghiên cứu: Xây dựng chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu người học (C10-02, CN: Nguyễn Hữu Tiến); Cơ sở khoa học của việc xây dựng chương trình nhằm đáp ứng yêu cầu phân hoá trong giáo dục phổ thông (B2004-80-03, CNĐT: Tôn Thân); Dạy học phân hoá ở trường THPT sau năm 2015 (B2005, CNĐT: Đoàn Duy Hinh). Các nghiên cứu đã cập nhật được xu thế phát triển giáo dục trên thế giới, đặc biệt là xu thế “Giáo dục hướng tới cá nhân” - phản ánh nguyên tắc phân hoá trong giáo dục cho thời đại mới; chuẩn bị luận cứ khoa học cho giai đoạn phát triển mới về giáo dục phổ thông (sau năm 2015); đưa ra cơ sở khoa học của việc xây dựng chương trình nhằm đáp ứng yêu cầu phân hoá trong giáo dục phổ thông và các giải pháp thực hiện phân hoá trong giáo dục hiện nay nhằm đáp ứng đòi hỏi của cá nhân và xã hội, nhất là chỉ ra được xu thế phân hóa trong dạy học ở cấp THPT. Đây là những nghiên cứu bước đầu đã tạo dựng được cơ sở lí luận và tổng quan kinh nghiệm quốc tế trong việc thực hiện dạy học phân hóa.
Đề tài cấp Bộ “Về phân hoá trong giáo dục phổ thông Việt Nam giai đoạn sau năm 2015” (B2007-CTGD-02, CNĐT: Nguyễn Thị Minh Phương) thuộc Chương trình nghiên cứu KHGD cấp Bộ giai đoạn 2006-2008 “Phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” đã nêu một số nội dung cơ bản sau: Định hướng phát triển giáo dục phổ thông sau năm 2015 (Thực hiện phân hoá trong giáo dục triệt để hơn nhằm: vừa đảm bảo phát triển tối đa khả năng của người học, vừa đảm bảo phù hợp với nhu 9 cầu phát triển nguồn nhân lực đất nước); Định hướng xây dựng mục tiêu giáo dục (theo hướng hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực hành động, đặc biệt là những năng lực vận dụng tri thức của nhiều môn học, để phát hiện và giải quyết những vấn đề cuộc sống); Định hướng xây dựng chương trình giáo dục (Mỗi lĩnh vực học tập hoặc môn học sẽ xây dựng 4 kiểu chương trình: cơ bản, nâng cao, mở rộng, chuyên sâu) với các khung chương trình bắt buộc và khung chương trình tự chọn; Định hướng về hình thức tổ chức phân hoá giáo dục (Thực hiện phân luồng sau THCS, sau THPT triệt để hơn bằng cách gắn kết chặt chẽ với việc điều chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học trong tương lai; thực hiện tự chọn tuỳ ý ở giáo dục tiểu học và giáo dục THCS và tự chọn bắt buộc theo định hướng từ lớp 11 ở giáo dục THPT). Tuy nhiên, mô hình phân hóa mà đề tài đề xuất mới chỉ dừng lại ở mô hình mang tính lí thuyết, chưa có sự thử nghiệm vào thực tiễn nên khả năng ứng dụng và tính khả thi của mô hình chưa được khẳng định [28]. Như vậy, các công trình nghiên cứu về phân hóa đã đưa ra những nguyên tắc và định hướng mang tính vĩ mô và bước đầu xác định một số định hướng cụ thể cho việc dạy học phân hóa trong giáo dục phổ thông, đã đề xuất được một định hướng phân hóa trong giáo dục phổ thông Việt Nam giai đoạn sau 2015. Các đề xuất đều hướng tới việc tổ chức dạy học tự chọn ở THCS.
Chương trình GDPT mới 2018 thể hiện yêu cầu phân hóa trên hai bình diện lớn: Phân hóa trong (vi mô) tiếp tục được quán triệt ở tất các các cấp, lớp học, tất cả các môn học/hoạt động giáo dục. Để thực hiện hướng phân hóa này, việc biên soạn sách giáo khoa cần chú ý đến các yêu cầu và mức độ khác nhau của cùng một nội dung. Đặc biệt, để phân hóa trong có hiệu quả cần chú trọng thực hiện phương pháp dạy học của giáo viên và cách kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.