Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về xây dựng khung năng lực giáo viên Sở GD&ĐT vùng Tây Úc (2004) đã xây dựng khung năng lực cho giáo viên nhằm: (1) Xây dựng một cấu trúc về tiêu chuẩn nghề nghiệp của giáo viên; (2) Xây dựng các yếu tố thiết yếu của việc giảng dạy hiệu quả, là điểm tham chiếu chung cho cuộc đối thoại giữa các thành viên trong nghề và cộng đồng; (3) Thúc đẩy và hỗ trợ việc giảng dạy có chất lượng bằng cách tạo ra những kiến thức, kỹ năng và thuộc tính rõ ràng đặc trưng cho phương pháp giảng dạy tốt; (4) Cung cấp cho giáo viên một công cụ phác thảo các khả năng và trách nhiệm để đạt được sự xuất sắc về chuyên môn; (5) Xác định kiến thức, kỹ năng và hành vi cần thiết để hỗ trợ giáo viên thực hành đi theo con đường sự nghiệp đã chọn; (6) Nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường học ở Tây Úc bằng cách cung cấp cho giáo viên một tài liệu hỗ trợ trong việc cải thiện hoạt động chuyên môn từ đó nâng cao kết quả học tập của học sinh; (7) Đưa ra định hướng cho các cơ sở giáo dục và các nhà cung cấp dịch vụ phát triển chuyên môn, phát triển các chương trình đảm bảo chất lượng giảng dạy [67]. Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Zambia (2016) đã xây dựng khung năng lực cho giáo viên phổ thông các trường công lập. Khung năng lực gồm 3 phần chính: kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Mỗi phần có các tiêu chí và chỉ số đánh giá cụ thể để hướng dẫn cơ quan quản lý và giáo viên trong tổ chức triển khai hoạt động đánh giá [85]. Bộ Giáo dục và Giáo dục đại học Li-băng (2017) đã xây dựng khung năng lực cho giáo viên các trường phổ thông. Khung năng lực gồm 4 lĩnh vực: năng lực chuyên môn, năng lực liên quan đến nghề nghiệp, năng lực phát triển chuyên môn, năng lực về đạo đức nghề nghiệp. Với tổng số 47 tiêu chí và các chỉ số đánh giá cho từng tiêu chí [86].
Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á (2018) đã xây dựng khung năng lực chung cho giáo viên của 11 quốc gia Đông Nam Á. Khung năng lực gồm: 4 năng lực cốt lõi, 12 năng lực chung (năng lực tổng quát), 31 năng lực trợ giúp (năng lực thành phần) và 136 nội dung diễn giải cho sự thành công. Các năng lực trợ giúp 10 là một tập hợp các tiêu chí về hiệu suất, trong khi các diễn giải cho sự thành công giải thích các hành vi có thể quan sát được mong đợi ở một giáo viên có thành tích cao. Hiện nay các quốc gia trong khu vực đang triển khai xây dựng thành các khung năng lực cụ thể cho từng cấp học và phù hợp với điều kiện của từng quốc gia [96].
Bộ Giáo dục Bang Quebec, Canada (2021) đã xây dựng khung tham chiếu về năng lực nghề nghiệp cho giáo viên. Khung tham chiếu bao gồm 4 lĩnh vực với 13 năng lực chuyên môn để khẳng định và tôn vinh vẻ đẹp cũng như sự phức tạp của nghề dạy học [73]. Hội đồng Nghiên cứu Giáo dục Australia (2021) đã xây dựng khung năng lực đánh giá giáo viên. Khung này có 07 yếu tố về khả năng đánh giá, đó là: Đánh giá kiến thức và kỹ năng; Đánh giá quá trình; Nhận dạng đánh giá; Phát triển chuyên môn; Môi trường học đường; Sự tham gia của người học và Tích hợp đánh giá kỹ thuật số [60].
Bülent Alan và Meral Guven (2022) đã đề xuất xây dựng khung năng lực giáo viên có thể đo lường và quan sát được. Các tác giả đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả khi thực hiện khung năng lực giáo viên do Bộ Giáo dục Thổ Nhĩ Kỳ xây dựng năm 2017. Dựa trên những phát hiện ban đầu, các nhà nghiên cứu đã dự thảo khung năng lực mới, được đánh giá bởi 397 giáo viên thông qua các biểu mẫu thông tin và 52 giáo viên đại diện cho tất cả các ngành khoa học giáo dục. Các phân tích dẫn đến một khung bao gồm 06 lĩnh vực năng lực, 31 năng lực trợ giúp và các chỉ số hiệu suất thực hiện công việc ở 04 cấp độ năng lực.
Khung năng lực chung của giáo viên được xây dựng từ kết quả nghiên cứu này sử dụng để phát triển chuyên môn cho giáo viên và ứng viên giáo viên như một hướng dẫn tham khảo và được sử dụng cho mục đích đánh giá với các chỉ số hiệu suất có thể đo lường và quan sát được [62]. Tổ chức UNICEF (2022) đã đề xuất khung năng lực số nhằm trao quyền cho giáo viên, cải thiện việc giảng dạy trực tuyến và thúc đẩy đổi mới trong giáo dục. Khung này hỗ trợ các quốc gia, khu vực và địa phương thúc đẩy năng lực kỹ thuật số của các nhà giáo dục bằng cách đưa ra một khung tham chiếu chung có thể được điều chỉnh để đáp ứng các nhu cầu khác nhau. Khuyến khích đổi mới trong thực 11 hành giáo dục và đào tạo, cải thiện khả năng tiếp cận học tập suốt đời và thúc đẩy các kỹ năng và năng lực cần thiết của thế kỷ XXI (kỹ thuật số) để phát triển nghề nghiệp, công bằng và hòa nhập.
Khung năng lực số cung cấp hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách, trường học, giáo viên, người học và phụ huynh nhằm đảm bảo một hệ thống nhất quán trên mỗi quốc gia trong khu vực trong ngắn hạn và dài hạn. Khung năng lực được xây dựng với 04 phần, gồm: (1) Phát triển tri thức: tập trung vào năng lực kỹ thuật số của các nhà giáo dục liên quan đến dạy và học kỹ thuật số và mối liên hệ của nó với chính sách quốc gia, phương pháp dạy, học và đánh giá kỹ thuật số; (2) Ứng dụng tri thức: tập trung vào năng lực của nhà giáo dục trong việc hỗ trợ kỹ năng số của người học để học tập hiệu quả, sử dụng CNTT một cách có trách nhiệm và giải quyết các vấn đề để phát triển, chuyển giao và tạo ra kiến thức mới; (3) Chia sẻ kiến thức: tập trung vào việc sử dụng các hoạt động cộng đồng để nâng cao năng lực cần thiết tham gia vào các hoạt động khuyến khích đối thoại mang tính xây dựng nhằm phát triển văn hóa hợp tác chuyên nghiệp; (4) Truyền thông tri thức: tập trung vào việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số để hỗ trợ truyền thông. Các nhà giáo dục cần hiểu cách cải thiện giao tiếp của họ với người học, với các bên liên quan, đồng thời sử dụng tài nguyên kỹ thuật số một cách an toàn và có trách nhiệm [100]. Nurken Akimov và các cộng sự (2023) đã đề xuất các yếu tố của giáo dục 4.0 trong khung năng lực đổi mới sáng tạo.
Bài viết đã phân tích các thành phần và đặc điểm chính của giáo dục 4.0; điều chỉnh thực tiễn dạy và học theo các yêu cầu đã thay đổi của công nghiệp 4.0 để triển khai thành công mô hình đổi mới. Kết quả cho thấy: (1) Có rất ít nghiên cứu tài liệu về các vấn đề liên quan đến các khía cạnh quan trọng trong động lực của đổi mới mở (quan hệ đối tác, tư duy phê phán, tự đánh giá, khả năng lãnh đạo, tình bạn và chấp nhận rủi ro); (2) Tài liệu chính tập trung vào nghiên cứu toàn diện các tiêu chí về kiến thức và kỹ năng, áp dụng các chiến lược phát triển phù hợp, có những khoảng trống trong phát triển nhân cách và học tập; (3) Thiếu nghiên cứu về khung năng lực hướng tới học sinh và việc sử dụng các chiến lược dạy và học để tăng cường đổi mới giáo dục mở trong trường học; (4) Thiếu nghiên cứu về phát triển năng lực đổi mới sáng tạo bằng cách sử dụng tài nguyên điện tử đám mây [88]. 12 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT về Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các nhà trường đánh giá phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên; xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường, địa phương và của ngành giáo dục [6]. Trần Thị Ngọc Yến, Trần Bá Tiến, Nguyễn Xuân Bình (2021) đã đề xuất khung năng lực cho giảng viên Đại học Vinh để phù hợp với chương trình giảng dạy theo tiếp cận hình thành ý tưởng, thiết kế, thực hiện và vận hành (CDIO).
Khung năng lực gồm 07 lĩnh vực với các tiêu chí và chỉ số đánh giá cụ thể. Khung này sẽ mang lại một số lợi ích cho các bên liên quan: (1) Cung cấp một cách tiếp cận mạch lạc đối với việc học tập chuyên môn theo kế hoạch nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và là cơ sở đáng tin cậy cho việc phân bổ ngân sách của nhà trường cho các ưu tiên về chất lượng giảng viên; (2) Mô tả năng lực và bằng chứng về năng lực nên các nhà quản lý có thể dựa vào đó để đánh giá giáo viên và lập kế hoạch phát triển chất lượng giáo viên [55]. Vũ Thị Thu Hoài (2021) đã đề xuất khung năng lực giảng dạy tích hợp cho chương trình giáo dục phổ thông và khuyến nghị áp dụng cho giáo viên khoa học tự nhiên. Khung năng lực gồm 04 năng lực cốt lõi với 10 tiêu chí và các chỉ số đánh giá tương ứng [28].
Nghiên cứu về hoạt động đánh giá giáo viên theo tiếp cận năng lực 1. Nghiên cứu về năng lực của giáo viên Theo F.Gonobolin, trong khoa học tâm lý người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm lý riêng lẻ của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp một hoạt động nào đó; điều đó có nghĩa là người đó có năng lực. Theo tâm lý học, năng lực được hình thành và phát triển thông qua hoạt động. Năng lực sư phạm của giáo viên là khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục, dạy học với chất lượng cao.
Năng lực sư phạm chỉ tồn tại trong sự vận động và phát triển [22]. Francesca Caena (2011) đã tổng hợp các công trình nghiên cứu, các khái niệm về năng lực cốt lõi của giáo viên trong bài viết "Literature review Teachers’ 13 core competences: requirements and developmen". Tác giả đã làm rõ nội hàm về năng lực, khả năng và chuẩn nghề nghiệp. Năng lực cốt lõi về kiến thức gồm: kiến thức về môn học đảm nhận, kiến thức sư phạm, kiến thức khoa học nền tảng (văn hóa, triết học, lịch sử, tâm lý, xã hội học), phương pháp và quy trình đánh giá, chính sách giáo dục.