Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN THAM GIA 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về năng lực của giáo viên Chất lượng GD chịu sự tác động và chi phối của nhiều yếu tố, tuy nhiên, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng GV chính là yếu tố có tính quyết định đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy. Theo tổng kết của UNESCO, vai trò của người GV đã có sự thay đổi theo các hướng sau đây [17]: (1) Đảm nhận nhiều chức năng khác so với trước, có trách nhiệm nặng nề hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và GD; (2) Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của HS, sử dụng tối đa những nguồn tri thức trong xã hội; (3) Coi trọng hơn việc cá biệt hoá học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; (4) Yêu cầu sử dụng rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại do đó có yêu cầu trang bị thêm các kiến thức, kĩ năng cần thiết; (5) Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các GV cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các GV với nhau; (6) Yêu cầu thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống; (7) Yêu cầu GV tham gia hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường; Giảm bớt và thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ với HS nhất là đối với HS lớn và cha mẹ HS.
Với quan niệm “GD không còn là việc dạy người học một điều gì đó, 6 điều quan trọng hơn là dạy họ phát triển một la bàn tin cậy cùng các công cụ điều hướng để tìm ra con đường riêng của họ trong một thế giới ngày càng phức tạp, đầy biến động và không chắc chắn” [36].1 Vai trò của người GV Với mục tiêu GD phải hướng tới một mục tiêu mới là làm cho mọi người đoàn kết bên nhau, có kiến thức và tinh thần sáng tạo, chung sức vì các tương lai hòa bình và bền vững cho tất cả mọi người trên cơ sở sự công bằng về kinh tế, xã hội và môi trường [7], việc giảng dạy cần được chuyên nghiệp hóa hơn trong nỗ lực hợp tác, nơi nhà giáo được ghi nhận là nhà sản xuất tri thức và nhân vật chủ chốt trong hành trình chuyển đổi GD và xã hội. Mặc dù người GV có thể rất nhân hậu, gần gũi và chăm lo cho HS của mình, nhưng đó không thể là những yếu tố duy nhất đảm bảo cho sự thành công nếu họ không có kiến thức sâu về môn mình dạy cũng như các kiến thức chung. Ngược lại, một GV có thể là một con người uyên bác, có kiến thức khoa học sâu rộng, nhưng lại thiếu các tố chất cần thiết của một con người thì cũng rất khó có thể thành công trong sự nghiệp của mình [19]. Năng lực của GV được xây dựng trên cơ sở hệ thống các văn bản pháp quy bao gồm Luật GD sửa đổi, các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng, kinh nghiệm xây dựng năng lực GV của các quốc gia.
Cùng với sự thay đổi nhanh chóng về điều kiện kinh tế, xã hội, và sự đổi mới căn bản toàn diện chương 7 trình GD phổ thông, những yêu cầu về năng lực của người GV cũng thay đổi để đáp ứng mục tiêu GD. Giảng viên đáp ứng được các yêu cầu về giảng dạy chất lượng là người tạo lập được môi trường dạy và học tích cực, hiệu quả trong hoạt động của mình, thể hiện qua các yếu tố: có kiến thức chuyên môn vững vàng; có hiểu biết về người học và bối cảnh dạy học; có sự chuẩn bị công phu và khoa học về học liệu phục vụ giảng dạy; có sự chuẩn bị các phương pháp giảng dạy một cách chủ động, sáng tạo; có năng lực tổ chức và QL lớp học; làm chủ được các phương pháp dạy học hiện đại; thiết lập được môi trường học tập tích cực trên lớp học; áp dụng được tiếp cận cá thể hoá trong giảng dạy; tuân thủ đúng các quy tắc và yêu cầu đánh giá người học; biết phát triển năng lực người học thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá. Năng lực của GV thể hiện qua việc: Chuẩn bị các hoạt động giảng dạy, Tổ chức giảng dạy, và Kiểm tra, đánh giá người học. Trong những năm qua, với sự phát triển chung của GD phổ thông, các Sở GD&ĐT đã chỉ đạo các trường thực hiện các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học thông qua tổ chức các hội thảo, các lớp bồi dưỡng, tập huấn về phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo cụm chuyên môn, cụm trường; tổ chức hội thi GV giỏi các cấp, động viên khen thưởng các đơn vị, cá nhân có thành tích trong hoạt động đổi mới phương pháp dạy học và các hoạt động hỗ trợ chuyên môn khác; công tác thi, kiểm tra và đánh giá kết quả thực chất, hiệu quả hơn [9].
Chuẩn nghề nghiệp GV là một khái niệm rộng hơn, bao gồm cả phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống tác phong của nhà giáo, cùng với NL chuyên môn, NL phát triển nghề nghiệp của người GV [6]. Xu hướng quốc tế trong cải cách GD&ĐT GV là chuyển từ GD định hướng nội dung sang GD định hướng NL. Trong đó chuẩn được sử dụng như một công cụ nhà nước để QLCLGD theo định hướng NL. Để phát triển năng lực giảng dạy của giảng viên, với sự tư vấn của các quốc gia phát triển, năm giai đoạn phát triển 8 năng lực giảng dạy của giảng viên đã được ghi nhận bao gồm: (1) Giai đoạn 1 – chuẩn hóa các tiêu chí, tiêu chuẩn năng lực giảng dạy của giảng viên; (2) Giai đoạn 2 – Tạo một nhóm làm việc/hội chuyên gia kỹ thuật cấp Bộ; (3) Giai đoạn 3 – Kiểm tra thử nghiệm dự thảo đầu tiên của các tiêu chuẩn năng lực giảng dạy; (4) Giai đoạn 4 – Triển khai và áp dụng đầy đủ tiêu chuẩn năng lực giảng dạy quốc gia; (5) Giai đoạn 5 – Giám sát và đánh giá.
Nhiều nước đã xây dựng bộ chuẩn cho chất lượng giáo dục cấp quốc gia bao gồm chuẩn chất lượng GD, chuẩn nhà trường, chuẩn CBQL GD, chuẩn GV. Tại Hoa Kỳ, Ủy ban quốc gia chuẩn nghề dạy học (National Board for Professional Teacher Standards) đã đề xuất 5 điểm cốt lõi để các bang vận dụng như sau: (1) GV phải tận tâm với HS và việc học của họ; (2) GV phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình; (3) GV phải có trách nhiệm QL và hướng dẫn HS học tập; (4) GV phải suy nghĩ một cách hệ thống về thực tế hành nghề của họ và học tập qua trải nghiệm; (5) GV phải là thành viên của cộng đồng học tập. Tại Anh, chuẩn nghề nghiệp GV của Anh bao gồm 3 lĩnh vực: (1) Những đặc trưng nghề nghiệp: Mối quan hệ với HS, phạm vi làm việc, giao tiếp và làm việc cùng người khác, sự phát triển chuyên môn của cá nhân; (2) kiến thức và sự am hiểu chuyên môn: dạy và học, đánh giá và giám sát, môn học và chương trình, biết đọc, biết tính toán và công nghệ thông tin, kết quả và sự đa dạng, sức khỏe và hạnh phúc; (3) các kỹ năng nghề nghiệp: lập kế hoạch, giảng dạy, đánh giá, giám sát và phản hồi, xem xét lại quá trình dạy học, môi trường học tập, làm việc nhóm và phối hợp. Tại Úc, Viện lãnh đạo trường học và sư phạm Úc đã ban hành Bộ chuẩn nghề nghiệp GV, theo đó chuẩn năng lực nghề nghiệp của GV bao gồm: kiến thức chuyên môn, thực hành nghề nghiệp, và sự tham gia nghề nghiệp [24].
Năm 2010, Tổ chức Bộ trưởng GD các nước Đông Nam Á (SEAMEO) đã có bản báo cáo tổng quan đánh giá chuẩn năng lực GV hiện tại của 11 nước trong khu vực 9 liên quan đến mọi khía cạnh: đặc trưng phẩm chất nghề nghiệp của GV, chính sách và quá trình xây dựng chuẩn năng lực, đánh giá và giám sát thực hiện chuẩn năng lực GV, chính sách thưởng, đãi ngộ, khuyến khích và các khuyến nghị chung trong bối cảnh GD thế kỉ 21. Bản báo cáo đã đưa ra khuyến nghị chung cho các nước, làm căn cứ để xây dựng chuẩn nghề nghiệp GV trên cơ sở cụ thể hóa bối cảnh từng quốc gia. Khung năng lực có thành tố chính là 4 lĩnh vực thể hiện đặc thù công việc nghề nghiệp của GV. Mỗi lĩnh vực được chia ra thành những năng lực chung kèm theo mô tả, biểu hiện của năng lực đó và ở mỗi biểu hiện đều có một “chỉ số thành công”.
Cụ thể 4 lĩnh vực này như sau: Lĩnh vực 1 là biết và hiểu những gì tôi dạy (có thể hiểu là năng lực chuyên môn), bao gồm các năng lực như: hiểu biết sâu và rộng về những vấn đề kiến thức chuyên môn; hiểu biết về những thách thức chính sách trong GD và chương trình; cập nhật những vấn đề về địa phương, vùng, quốc gia và phát triển toàn cầu. Lĩnh vực 2 là giúp đỡ người học học tập, với 2 năng lực chung: hiểu biết về người học; sử dụng những chiến lược dạy và học hiệu quả nhất. Lĩnh vực 3 là kết nối với cộng đồng, bao gồm: kết nối với cha mẹ hoặc người bảo hộ; thu hút cộng đồng trong việc hỗ trợ HS học tập; tôn trọng người khác và chấp nhận sự khác biệt. Lĩnh vực 4 là trở thành người GV tốt hơn mỗi ngày, với 3 năng lực chung: biết mình biết người; thể hiện sự nhân văn trong cuộc sống và trong công việc; biết điều khiển, QL hoạt động nghề nghiệp.
Sự thay đổi liên tục của dạy học và GD là điều tất yếu, vì rất ít GV có thể quả quyết rằng “mình đã hiểu biết tất cả, đã tinh thông nghề dạy học”, cũng vì thế mỗi GV cần phát triển năng lực nghề nghiệp của mình một cách liên tục [16]. Tác giả Baek Sun Geun cùng cộng sự (2007) đã đề cập đến những công việc mà GV ở trường trung học phải đảm nhận là “chương trình môn học, hướng dẫn hỗ trợ HS, công tác hành chính, quan hệ với HS, quan vệ với phụ huynh, mối quan hệ với đồng nghiệp, phát triển cá nhân” [8]. Tác giả 10 cho rằng năng lực của GV bao gồm năng lực về lý luận và năng lực thực hiện. Năng lực về lý luận sẽ bao gồm Kiến thức môn học, Người học và hoạt động học tập, Thiết kế tiết học và phát triển, Môi trường dạy và học, và Đánh giá.