MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục đại học là bậc học quan trọng của hệ thống giáo dục, giữ vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của các quốc gia và vùng lãnh thổ. Giáo dục đại học đã đào tạo hàng loạt đội ngũ lao động mới cho các ngành sản xuất và dịch vụ, bồi dưỡng các nhà quản lí ở trình độ cao, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, giáo dục đại học còn là nơi sáng tạo ra tri thức, chuyển giao các thành tựu mới về khoa học, kĩ thuật cho xã hội.
Bậc học này “góp phần vào yêu cầu phát triển bền vững và phát triển xã hội nói chung” (UNESCO, 1998). Ngày nay, giáo dục đại học cũng được xem là một ngành dịch vụ chất lượng cao, trực tiếp tạo ra nguồn thu nhập, đóng góp vào GDP của quốc gia (Trần Khánh Đức, 2010). Với vị thế quan trọng đó, giáo dục đại học phải không ngừng cải tiến chất lượng để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của xã hội, đặc biệt trong bối cảnh biến động nhanh chóng của quốc gia và toàn cầu hiện nay. Trường sư phạm là một nhóm trường có nhiều đặc thù so với các nhóm trường còn lại trong hệ thống giáo dục đại học.
Sản phẩm đào tạo của nhóm trường này tập trung vào lực lượng giáo sinh, những người sẽ làm công tác giáo dục thế hệ trẻ tại các cơ sở giáo dục. Nhiều nghiên cứu và thực tiễn đã khẳng định giáo viên là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến kết quả học tập của học sinh, những tác động của họ có thể kéo dài đến ít nhất hai năm sau đó (Sanders & Rivers, 1996; dẫn theo Martin & Loomis, 2014). Để có đội ngũ giáo viên với các phẩm chất và năng lực đáp ứng những yêu cầu thực tiễn nhà trường thì việc đào tạo sinh viên tại các trường sư phạm được xem là một khâu then chốt. Khi Việt Nam tiến hành đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, vai trò của các trường SP lại được chú trọng hơn nữa, nhằm đảm bảo khả năng dẫn dắt tiến trình nâng cao chất lượng tại các trường phổ thông.
Ở khía cạnh khác, quan điểm học tập qua trải nghiệm xuất hiện từ thời cổ đại và đã phát triển thành một cách tiếp cận, quan điểm giáo dục quan trọng trong nhà trường hiện đại. Nhờ có các hoạt động trải nghiệm mà học sinh hứng thú và tích cực hơn với học tập (Mark, 2002); nhận thức, thái độ cải thiện tốt hơn (Anderson, Hsu & Kinney, 2016),…Ý thức tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trở thành một 1 hoạt động giáo dục bắt buộc trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Hoạt động giáo dục này nhằm hướng đến việc hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực thích ứng cuộc sống, thiết kế và tổ chức hoạt động, định hướng nghề nghiệp, cũng như phát triển đời sống tinh thần và các phẩm chất nhân cách. Nội dung của nó tập trung vào bốn nhóm: hoạt động hướng vào bản thân, hoạt động hướng đến xã hội, hoạt động hướng đến tự nhiên và hoạt động hướng nghiệp (Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2018b).
Để triển khai thành công hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đòi hỏi giáo viên phải có những năng lực tổ chức nhất định. Năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm thuộc các năng lực giáo dục, là chuẩn nghề nghiệp mà mỗi giáo viên phải có, đồng thời cũng là mục tiêu, chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo sinh viên sư phạm hiện nay. Năm 2019, Việt Nam có 15 trường đại học sư phạm, 48 trường đại học đa ngành có đào tạo giáo viên, 30 trường cao đẳng sư phạm, 19 trường cao đẳng đa ngành có đào tạo giáo viên (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2019). Trong các chương trình đào tạo sinh viên sư phạm tại Việt Nam, phát triển năng lực dạy học và năng lực giáo dục học sinh là hai mục đích quan trọng, được tích hợp vào nhiều học phần và hoạt động giáo dục khác nhau.
Các năng lực dạy học và giáo dục truyền thống như hiểu biết về kiến thức chuyên ngành dạy học, tổ chức quá trình dạy học, đánh giá người học, sử dụng ngôn ngữ, sử dụng kỹ thuật dạy học; hiểu biết về giáo dục và quá trình giáo dục, giao tiếp sư phạm, cảm hóa học sinh…(Phạm Thành Nghị, 2011) đã được các trường sư phạm tổ chức phát triển khá hiệu quả cho sinh viên qua các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đa dạng. Tuy nhiên, một số năng lực mới đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông 2018 như năng lực dạy học phân hóa, dạy học tích hợp, đặc biệt là năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp (gọi tắt là năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm) thì chưa được triển khai phát triển hoặc triển khai mà chưa được đánh giá về hiệu quả. Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo, giảm khả năng hoàn thành chuẩn đầu ra của các trường sư phạm. Hơn nữa, về mặt lí luận, nhiều vấn đề liên quan đến năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm và phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm còn cần được làm rõ.
Cụ thể, năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên sư phạm gồm có những thành phần nào? Hay, khung năng lực này là gì? Năng 2 lực tổ chức hoạt động trải nghiệm được hình thành và phát triển từ giai đoạn đào tạo tại các trường sư phạm, thông qua nhiều hình thức khác nhau. Vậy, có các hình thức nào để phát triển năng lực này? Cách thức triển khai để đạt hiệu quả của các hình thức ấy ra sao? Những câu hỏi trên, chúng tôi vẫn chưa thấy câu trả lời đầy đủ và rõ ràng trong các nghiên cứu gần đây. Trước những đòi hỏi trên, nghiên cứu “Phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm” có ý nghĩa lí luận và thực tiễn cao, sẽ đóng góp tích cực vào quá trình đào tạo giáo viên và đổi mới giáo dục Việt Nam. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu này nhằm đề xuất các biện pháp phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm tại các trường đại học ở Việt Nam, từ đó, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên sư phạm tại các cơ sở giáo dục đại học.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm. - Nghiên cứu thực trạng phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm tại các trường đại học ở Việt Nam. - Đề xuất biện pháp phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm tại các trường đại học ở Việt Nam. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4.
Khách thể nghiên cứu Hoạt động đào tạo sinh viên sư phạm ở trường đại học. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm tại các trường đại học ở Việt Nam. Giả thuyết nghiên cứu Hiện nay, phần lớn sinh viên sư phạm tại các trường đại học ở Việt Nam đã có năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm, nhưng còn chưa tốt; việc phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm đã tập trung vào các mục tiêu trọng tâm, các nội dung quan trọng, nhiều phương thức phát triển cơ bản đã được thực hiện, phương thức đánh giá kết quả phát triển năng lực khá đa dạng, nhưng hiệu 3 quả tác động đến năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên còn thấp. Nguyên nhân của thực trạng này có thể là do các trường đại học chưa có các tác động mang tính hệ thống và phù hợp với đặc trưng của năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên.
Nếu áp dụng được một số biện pháp đã đề xuất dựa trên các cơ sở khoa học và thực tiễn thì sẽ góp phần nâng cao năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm. Phạm vi nghiên cứu 6. Về nội dung nghiên cứu Năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm của sinh viên sư phạm trong luận án này được xem là một năng lực giáo dục của người giáo viên phổ thông (tương lai), đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018; hoạt động phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm được tổ chức trong quá trình đào tạo ở trường đại học, thông qua hình thức dạy học các học phần (Giáo dục học), tập huấn, tổ chức chuyên đề, thực tế, thực tập sư phạm, hoạt động Đoàn - Hội và cá nhân tự phát triển. Về địa bàn nghiên cứu Luận án thực hiện nghiên cứu tại 3 trường đại học sư phạm tại Việt Nam: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế, và Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
Về khách thể khảo sát Khách thể khảo sát gồm 02 nhóm: Nhóm 1: Giảng viên giảng dạy các học phần Giáo dục học ở trường đại học sư phạm; Nhóm 2: Sinh viên sư phạm (trừ sinh viên các ngành Giáo dục mầm non, Giáo dục đặc biệt) ở trường đại học sư phạm. Về thực nghiệm biện pháp Luận án chỉ thực nghiệm biện pháp phát triển qui trình tổ chức dạy học học phần Giáo dục học nhằm phát triển năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm cho sinh viên sư phạm, tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Về thời gian nghiên cứu Từ năm học 2019-2020 đến năm học 2022-2023. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7.
Phương pháp luận nghiên cứu 7. Tiếp cận hệ thống Tiếp cận hệ thống thường được vận dụng trong các nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học giáo dục. Yêu cầu cơ bản của tiếp cận này là nghiên cứu các đối tượng cần nhìn nhận chúng với tư cách một hệ thống có nhiều thành tố, các thành tố tác động qua lại với nhau và với môi trường. Để nhận thức sâu sắc về đối tượng, nhà nghiên cứu phải phân tích các bộ phận của chúng, tìm ra mối liên hệ biện chứng giữa các bộ phận và giữa hệ thống với môi trường.