Chương 1. LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC THÔNG QUA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những nghiên cứu về năng lực xây dựng môi trường học tập 1.
Những nghiên cứu về môi trường giáo dục và môi trường học tập - Những nghiên cứu về môi trường giáo dục Trên thế giới và cả ở Việt Nam, vấn đề về MTGD đã được xác định và nghiên cứu từ rất sớm bao gồm những nghiên cứu đưa ra quan niệm về MTGD, về sự ảnh hưởng và các yếu tố cấu thành MTGD,. Trong đó có một số nghiên cứ như: Tác giả A. Macarenco [Dẫn theo 54] thông qua việc đề cập đến tập thể giáo dục với những dấu hiệu đặc trưng của nó và việc XD tập thể đó, đã bàn về MTGD - nơi hình thành và PT nhân cách cho trẻ. Lí luận và thực tiễn XD tập thể của Macarenco đã góp phần làm rõ hơn nhận thức về môi trường và XD MTGD, khẳng định vai trò của MTGD hết sức quan trọng đối với việc hình thành và PT nhân cách.
Tác giả Stanislaw Kowalski [64] đã đề cập đến môi trường bao gồm môi trường nói chung, môi trường xã hội, MTGD. Ông coi MTGD theo nghĩa rộng là một hệ thống gồm bất cứ những nhân tố kích thích hay ảnh hưởng nào đối với con người và theo nghĩa hẹp hơn thì đó là một hệ thống những nhân tố kích thích có ý đồ, có phương hướng nhằm đạt được mục tiêu giáo dục nhất định. Theo ông, MTGD được xem xét trong mối liên hệ giữa nó với các nhóm hay các thể chế cùng tham gia vào hoạt động giáo dục. Ông nêu ra vai trò của MTGD trên bình diện xã hội, tuy nhiên ông không chỉ ra được cấu trúc cụ thể của MTGD.
Quan điểm của tác giả Edward Rây Krisnan [Dẫn theo 60] khi nói về việc tạo bầu không khí trong học tập của SV đã chỉ ra sự ảnh hưởng của MTGD đến hiệu quả của hoạt động này. Ông đã liên tưởng đến hoạt động học của những đứa trẻ dưới tác động của những yếu tố thuộc về môi trường đã làm nảy sinh sự tích cực trong hoạt động khám phá của chúng để minh họa cho những ảnh hưởng của MTGD. Cũng là về vai trò của MTGD, John Keeves đã đề cập đến mối quan hệ giữa các yếu tố như gia đình, nhóm bạn, lớp học hay các yếu tố về vật chất và tâm lý tạo nên MTGD và sự ảnh hưởng của MTGD đến chất lượng học tập của người học. John Keeves cho rằng, MTGD có vai trò kích thích tiếp nhận kiến thức của cá nhân, sự PT các kĩ năng nhận thức và việc hình thành các thái độ.
10 Ở Việt Nam, từ rất sớm, các tác giả Vũ Lâm Bút [9] tác giả Nguyễn Tấn Hùng đã chỉ ra những tác động của MTGD trong thực tế [34] Tác giả Đinh Hữu Liễn [40] tác giả Phạm Hồng Quang [60], tác giả Trần Đức Minh [Dẫn theo 60], tác giả Lê Thị Oanh [54], … thông qua các công trình nghiên cứu của mình đã nêu ra và phân tích khái niệm MTGD đồng thời phân tích mối quan hệ chính trong đó như: quan hệ thầy - trò, người được phục vụ - người phục vụ; quan hệ giữa HS - HS; hệ thống tổ chức các cơ quan chức năng trong nhà trường, những tác động tích cực của MTGD và những biện pháp hoạt động để XD MTGD phù hợp. Trong đó, tác giả Phạm Hồng Quang đã đề cập khá sâu đến nhiều quan điểm khác nhau về môi trường, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, MTGD và môi trường văn hóa giáo dục. Tác giả đã phân tích sâu sắc vai trò quan trọng của môi trường nói chung và MTGD nói riêng đối với đời sống con người và sự hình thành PT nhân cách và đưa ra cách hiểu về MTGD ở những khía cạnh khác nhau: “MTGD là toàn bộ cơ sở vật chất, tinh thần mà trong đó con người được giáo dục đang sống, lao động và học tập, được sử dụng nhằm tác động đến sự hình thành nhân cách của họ phù hợp với mục đích giáo dục đã định”. Hay ở khía cạnh khác: “MTGD là tập hợp không gian với các hoạt động XH của cá nhân, các phương tiện và giao lưu được phối hợp với nhau tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục đạt kết quả cao nhất” hoặc coi MTGD là đời sống sinh động hàng ngày, hàng giờ tác động ảnh hưởng trực tiếp quyết định các giá trị đạo đức.
Hội thảo khoa học “Tâm lý học và vấn đề cải thiện MTGD hiện nay” tại Cần Thơ (Ngày 13 - 14/7/2013) do Hội khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam tổ chức, đã tập hợp được nhiều ý kiến tham luận về các vấn đề xoay quanh việc XD MTGD nói chung và MTHT nói riêng. Một số bài viết tiêu biểu bao gồm: Trần Thị Cẩm Tú [81]; Phạm Minh Hạc [22]; Nguyễn Thị Thúy [73]; Hoàng Tùng [83]. Các bài viết đã đề cập đến tác động của MTGD, vấn đề cải thiện MTGD dưới góc độ Tâm lý học, xác định giá trị, XD mối quan hệ hay tinh thần tốt đẹp là những thành tố tạo nên MTGD. Từ năm 2013, Cục nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục đã ban hành Tài liệu bồi dưỡng PT NL nghề nghiệp giáo viên các cấp, trong đó một số tác giả đã XD nội dung liên quan đến MTGD.
Nội dung của các tài liệu đề cập đến những yếu tố cơ bản trong MTGD, tác động của MTGD đến hiệu quả giáo dục và một số biện pháp cần lưu ý trong XD MTGD. Ngoài ra, có rất nhiều công trình nghiên cứu như các công trình của tác giả Phan Xuân Sơn [66] và [65], Lê Cao Thắng [72], Đỗ Chiêu Hạnh [24], Phạm Hồng Quang [61] [70], [89], [12],Tạ Thành Vinh [87] đã đề cập đến MTGD nhằm mục đích riêng và áp dụng 11 cho những nhóm đối tượng cụ thể là SV, trẻ mẫu giáo, HS phổ thông với các nội dung như: Sự cần thiết XD MTGD; đặc điểm của MTGD ở mỗi nhóm đối tượng; nguyên tắc, quy trình XD MTGD cho từng đối tượng, từng loại nhà trường, … Như vậy các công trình nghiên cứu đã xác định, XD MTGD có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là định hướng đúng đắn để xác định hướng nghiên cứu của đề tài luận án, bởi MTGD nói chung tác động đến mọi môi trường thành phần nói riêng được bao hàm ở trong đó. Việc tìm hiểu về MTGD là cơ sở để phân biệt và làm rõ các môi trường thành phần, trong đó có MTHT.
- Những nghiên cứu về môi trường học tập Việc nghiên cứu về MTHT đã được đặt nền móng rất sớm trên thế giới với nhiều khía cạnh được đề cập, bao gồm: sự ảnh hưởng của MTHT đến sự PT nhân cách nói chung và đến hiệu quả của hoạt động dạy và học nói riêng, cấu trúc của MTHT, những yếu tố tác động đến MTHT, XD MTHT, …. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của MTHT đến sự hình thành và phát triển nhân cách MTHT đã được xác định là một yếu tố quan trọng trong giáo dục bắt nguồn từ công trình nổi tiếng của Rudolph Moos vào những năm 70 của thế kỷ trước và sau đó là quá trình nghiên cứu của Stem, Stein và Bloom [Dẫn theo 100] Tài liệu của tác giả Angela Miller [93] cũng đã dẫn kết quả nghiên cứu của Urie Bronfenbrenner về ảnh hưởng của bối cảnh sinh thái, bao gồm hệ thống môi trường nhiều lớp của các thế giới vi mô nơi mà sự PT của con người diễn ra và nhấn mạnh ảnh hưởng của gia đình, giáo viên, trường học và môi trường văn hóa XH có liên quan đến sự PT của con người. Trong những năm qua, nghiên cứu này đã PT từ việc kiểm tra sự ảnh hưởng của các yếu tố vật lý thuần túy của môi trường sang các mô hình phức tạp hơn về mối quan hệ tâm lý XH giữa HS trong lớp học cũng như giữa giáo viên và HS. Frase [101] đã sử dụng công cụ khảo sát MTHT trong kết quả nghiên cứu của Walberg [116] để thu thập dữ liệu về nhận thức và những ảnh hưởng tới kết quả học tập của người học.
Kết quả nghiên cứu cho thấy người dạy và người học thường muốn có một MTHT thuận lợi hơn so với những gì mà họ có. Từ đó, Fraser đã nhấn mạnh về ảnh hưởng của môi trường lớp học tới nhận thức và hành vi của người học. Dẫn theo 77] Hai tác giả Denomme và Madeleine Roy đã xem xét môi trường là một yếu tố thuộc quá trình dạy học chứ không đơn thuần là nơi diễn ra các hoạt động học khi họ tập trung nghiên cứu về môi trường dạy học và XD nên mô hình SP tương tác. [43] Với mô hình này, bộ ba mối quan hệ Người dạy – Người học - Tri thức đuợc chuyển thành Người dạy - Người học - Môi trường.
Từ đó, các tác giả đã nhấn mạnh rằng môi trường ảnh hưởng 12 đến người dạy, người học; đòi hỏi người dạy và người học phải thích nghi với môi trường, đây chính là hệ quả của phương pháp SP tương tác. Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hữu Châu đã nêu lên sự ảnh hưởng của MTHT đối với hoạt động học của người học khi cho rằng “người học không học bằng cách thu nhận một cách thụ động những tri thức do người khác truyền cho một cách áp đặt, mà bằng cách đặt mình vào trong một môi trường tích cực, phát hiện ra vấn đề, giải quyết vấn đề bằng cách đồng hóa hay điều ứng những kiến thức và kinh nghiệm đã có cho thích ứng với những tình huống mới, từ đó XD nên những hiểu biết mới cho bản thân” [10] Tác giả Đặng Thành Hưng [36] đã chỉ ra năm thành phần tương đối khác nhau về vai trò, chức năng trong hoạt động dạy học, gồm: (1) Nội dung học vấn; (2) Các hoạt động SP; (3) Những NL và phẩm chất SP của thầy và trò trong việc tiến hành các hoạt động; (4) MTHT; (5) Các thuộc tính,chức năng của phương tiện, công cụ, nguồn lực dạy học. Trong đó, MTHT đóng vai trò như là động cơ kích thích, với chức năng động lực. Tất cả các yếu tố này không thể tách rời nhau mà tích hợp với nhau tạo nên hoạt động dạy học.
Lê Đức Quảng [59] đã chỉ rõ tầm quan trọng của MTHT đối với người học và trách nhiệm của GV trong việc XD MTHT tích cực trong nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục.