chương 1) cho thấy đa số SV ngành GD tiểu học có nền tảng về kiến thức, kĩ năng nhất định nhưng chưa vận dụng được một cách hiệu quả những kiến thức, kĩ năng ấy vào thực tiễn dạy học nói chung và dạy học KTTV trong môn Tiếng Việt ở tiểu học nói riêng. Trong quá trình đào tạo, các kiến thức, kĩ năng dạy học cho SV vẫn được chú trọng nhưng SV chưa có nhiều cơ hội để vận dụng những kiến thức, kĩ năng đó vào quá trình dạy học trong thực tiễn mà thường mới chỉ thông qua hình thức kiến tập, TTSP được tổ chức trong khoảng thời gian ngắn. Điều này dẫn tới SV gặp khó khăn trong quá trình công tác nghề nghiệp khi mới tốt nghiệp ra trường. Bên cạnh đó, tài liệu về dạy học tiếng Việt nói chung và dạy học KTTV trong môn Tiếng Việt ở tiểu học nói riêng dành cho SV chưa nhiều, nội dung của một số tài liệu cũng chưa cập nhật được quá trình đổi mới về nội dung, chương trình môn học, PPDH… dẫn đến việc tiếp cận nội dung này của SV còn nhiều hạn chế.
Chính những điều này dẫn đến khó khăn trong quá trình tổ chức dạy học môn Tiếng Việt nói chung và dạy học KTTV nói riêng của SV. Như vậy, có thể khẳng định, việc phát triển NL dạy học KTTV đã có những chuyển biến tích cực, song vẫn còn nhiều vấn đề đang đặt ra trong công tác đào tạo SV cần được quan tâm nghiên cứu để nâng cao chất lượng đào tạo cho SV ngành GD tiểu học. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Phát triển năng lực dạy học kiến thức tiếng Việt cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học để nghiên cứu. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong trường tiểu học vì những kĩ năng được rèn luyện và phát triển trong giờ học tiếng Việt (đọc, viết, nói, nghe) là những kĩ năng cần thiết để thực hiện các hoạt động học tập và giao tiếp phù hợp với lứa tuổi.
Ở cấp tiểu học, tiếng Việt vừa là đối tượng dạy học vừa là công cụ để HS học tập các 3 môn học khác. Nó được dành một thời lượng nhiều hơn các môn học khác. Như vậy, để rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho HS thì GV phải có NL dạy học môn Tiếng Việt, trong đó có NL dạy học KTTV. Thực hiện đề tài luận án, chúng tôi tìm hiểu các công trình nghiên cứu về: - Năng lực dạy học và phát triển năng lực dạy học.
- Dạy học KTTV và phát triển NL dạy học KTTV cho SV ngành GD tiểu học. Những nghiên cứu về năng lực dạy học và phát triển năng lực dạy học 2. Những nghiên cứu về năng lực dạy học 2. Những nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề NL dạy học đã được nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm nghiên cứu.
Ở Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, từ những năm 60 của thế kỉ XX, các tác giả như: N. N Gonobolin… đã có những nghiên cứu về NL của người GV như xác định cấu trúc NL, những kĩ năng cần có của người GV và mối quan hệ giữa NL chuyên môn với NL nghiệp vụ [DT121, tr. Ở phương Tây và các nước phát triển như Mĩ, Canađa, Australia… các tác giả bàn thảo khá nhiều đến việc tổ chức luyện những kĩ năng thực hành giảng dạy cho giáo sinh dựa trên thành tựu của tâm lí học hành vi và tâm lí học chức năng, trong đó đề xuất thời lượng giờ thực hành cần được phân bổ nhiều hơn so với giờ lí thuyết [DT121, tr. Các chuyên gia giáo dục Australia đề xuất 5 NLDH của GV, đó là: (1) NL thiết kế kế hoạch dạy học; (2) NL đánh giá kết quả học tập của HS; (3) NL học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; (4) NL phân tích chương trình, tài liệu học tập và phát triển chương trình phù hợp với bối cảnh trường học; (5) NL hợp tác với đồng nghiệp trong và ngoài trường.
Dựa trên 5 NL này, các chuyên gia đã thiết kế chuẩn NL của GV gồm có 3 mức từ thấp đến cao (mức cao, mức giữa và mức thấp). Trong 5 NL nêu trên thì các NL số (1), (2), (3), (4) là những NL liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ dạy học [104]. Tổ chức liên bang về đánh giá và trợ giúp GV của Hoa Kì (INTASC) đã đề xuất các tiêu chí đánh giá NL của người GV như sau: - Có hiểu biết về môn học và có khả năng tạo ra môi trường sư phạm để truyền đạt những hiểu biết của người GV cho HS; - Có hiểu biết về khả năng nhận thức của HS để xây dựng phương pháp giảng dạy phù hợp; - Có kiến thức về sự đa dạng của HS để xây dựng PPDH đối với từng đối tượng HS; - Có khả năng giao tiếp và tổ chức nhằm tạo ra môi trường học tập lành mạnh; - Xây dựng chương trình học đi đôi với hành; - Biết cách nhận xét đánh giá chính thống và không chính thống; - Có trách nhiệm trong công việc luôn nâng cao trình độ nghề nghiệp; - Có khả năng tạo mối quan hệ tốt với đồng nghiệp, phụ huynh, xã hội nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS [DT121, tr. Tác giả Giselle O Martin – Kniep (2016) cho rằng để trở thành một GV giỏi thì không thể thiếu các NL như: NL tìm hiểu, phân tích và thiết kế được chương trình, NL 4 đánh giá HS theo chuẩn, đánh giá sát với thực tế, NL quản lí hồ sơ học tập của HS [157].
Cùng đề cập đến NL của GV, tác giả James H. Stronge (2016) đã đặt ra hai vấn đề: Thứ nhất, tác giả đặt ra câu hỏi“Thế nào là người GV hiệu quả?” và nội dung câu hỏi này đã được tác giả phân tích một cách khá chi tiết như điều kiện tiên quyết để giảng dạy có hiệu quả, đó là người GV phải có NL quản lí và tổ chức lớp học, NL soạn bài và tổ chức lớp dạy, thực hiện giảng dạy, theo dõi sự tiến bộ và tiềm năng của HS, thế nào là giảng dạy hiệu quả theo nghĩa khái quát nhất; Thứ hai là sự hiệu quả của người GV. Ở vấn đề thứ hai này, tác giả đã thiết kế các bảng đánh giá kĩ năng của GV như GV cũng là một con người, kĩ năng quản lí và tổ chức lớp học, kĩ năng soạn bài và tổ chức giảng dạy, kĩ năng thực hiện giảng dạy, kĩ năng theo dõi sự tiến bộ và tiềm năng của HS để xác định những phẩm chất đặc trưng của người GV hiệu quả trong thực hành giảng dạy. Tác giả khẳng định, mỗi phẩm chất trong bảng kiểm tra bao gồm nhiều yếu tố đảm bảo thành công và cũng là một thang công cụ để đánh giá điểm mạnh cũng như điểm cần khắc phục, từ mức không hiệu quả lên mức thành thục.
Mặt khác, GV cũng có thể sử dụng bảng kiểm tra này để tự đánh giá bản thân, tổng kết và nhìn nhận về những yếu tố giúp công tác giảng dạy trở nên hiệu quả hơn. Tác giả khẳng định rằng các bảng kiểm tra này nhằm xác định được những điểm mạnh và những điểm chưa tốt để thúc đẩy sự phát triển nghiệp vụ và các cơ hội phát triển nghề nghiệp phù hợp hơn với nhu cầu của GV. Có thể thấy, các NL người GV phải có đó là: NL quản lí và tổ chức lớp học, NL soạn bài và tổ chức lớp dạy, NL thực hiện giảng dạy, NL theo dõi sự tiến bộ và tiềm năng của HS [156]. Marzano (2016) và cộng sự cũng đã đưa ra các câu hỏi và giải đáp các câu hỏi như “người GV cần phải làm gì để xây dựng các bài học hiệu quả được tổ chức thành một đơn vị bài học chặt chẽ và cần làm gì để giúp HS chiếm lĩnh được tri thức mới và vận dụng vào thực tế cuộc sống…”.
Như vậy, tác giả cũng đã đề cập đến NL thiết kế KHBD và NL vận dụng các PPDH để giúp HS chiếm lĩnh được tri thức [154]. Bên cạnh những nghiên cứu về NLDH và NL của người GV, các nhà nghiên cứu cũng dành nhiều sự quan tâm nghiên cứu đến vấn đề NL sư phạm. Chẳng hạn, các học giả Thụy Điển đã nêu lên ba yêu cầu về NL sư phạm của người GV như sau: (1) Có một định nghĩa về NL sư phạm với bằng chứng đánh giá rõ rệt; (2) Các tiêu chí đánh giá có liên thông, kết nối với định nghĩa này; (3) Hồ sơ dạy học với những tư liệu của GV chứng minh được kĩ năng sư phạm dựa trên những đòi hỏi đối với công việc. Từ 3 yêu cầu trên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra 11 tiêu chí với các chỉ báo cụ thể 5 để đánh giá như sau: “- Có thái độ đề cao việc học; - Luôn dựa vào nghiên cứu và có thái độ khoa học; - Có kiến thức rộng và thích hợp về môn học; - Có tri thức về việc học tập của HS; - Có tri thức về việc dạy học của GV; Hiểu biết về mục tiêu và chương trình; - Có quan điểm chính thể luận (holistic); - Có kĩ năng dạy học; - Nỗ lực cải tiến liên tục; - Có khả năng lãnh đạo và tổ chức; - Hợp tác với người khác và đối ngoại” [DT 70, tr.
Có thể nói, những công trình của các tác giả trên đây đều tập trung nghiên cứu NLDH và đều có quan điểm chung về các thành tố NLDH đó là NL sử dụng các PPDH, NL thiết kế KHBD, NL thực hiện giảng dạy, NL đánh giá HS… Những kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa rất lớn đối với chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài của mình. Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở trong nước, vấn đề NLDH cũng được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu. Trong bài báo cáo tại Hội thảo khoa học “Đánh giá nhu cầu và thiết kế mô hình đào tạo theo năng lực – lí luận và thực tiễn” do trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc Gia Hà Nội tổ chức, tác giả Đỗ Ngọc Thống (2012) đã đưa ra quan niệm về NL sư phạm trong đó nhấn mạnh đến khả năng “dễ hóa việc học của HS bằng phương pháp tốt nhất” và cũng trong bài viết này, tác giả cho rằng “GV của tất cả các cấp cần được trang bị và phát triển NL sư phạm trên nền tảng các NL như: giao tiếp, công nghệ thông tin – truyền thông (ICT), thích ứng và hợp tác, tư duy phê phán, giải quyết vấn đề và sáng tạo, tự học, học cách học, NL văn hóa chung; NL xúc cảm thẩm mĩ – nhân văn” [108].