phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm có 3 chƣơng là Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu; Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và các bƣớc tiến hành; Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận. Bên cạnh 58 trang chính văn, đề tài gồm có 17 trang phụ lục bao gồm: Phiếu khảo sát GV về thực trạng; Phiếu điều tra GV; Kế hoạch dạy học các hoạt động giáo dục đã thiết kế; Một số hình ảnh thực nghiệm. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề chung về GDGT ở tiểu học 1.
Khái niệm GDGT Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về giới tính. Theo nghĩa thông thƣờng, giới tính đƣợc hiểu là sự khác biệt giữa nam và nữ. Theo từ điển Tiếng Việt, thì “Giới tính là một danh từ chỉ những đặc điểm phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái”. Theo từ điển Sinh học phổ thông, “Giới tính là tính trạng phân biệt giống đực, giống cái, thể hiện cấu tạo ngoài của cơ thể sinh vật, có những điểm khác nhau giữa giống vật đực và giống vật cái, giữa đàn ông và đàn bà.
Còn theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “giới tính” là những đặc điểm sinh học và sinh lý nhằm xác định một cá thể là nam hay nữ [19]. Theo nghĩa rộng GDGT còn chỉ tổng thể những đặc điểm tâm sinh lý, hành vi của từng giới, là toàn bộ những biểu hiện mà chúng ta quan sát đƣợc. Giới và giới tính không giống nhau, trong đó theo SEAGEP (2001), giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và nữ giới. Giới tính của mỗi ngƣời không thể thay đổi đƣợc.
Còn giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam và nữ nhƣ vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị. Những sự khác biệt hình thành trong quá trình sống và có thể thay đổi theo thời gian, theo không gian văn hóa, theo bối cảnh xã hội, bị chi phối bởi các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế [11, tr. Theo Hiệp hội Tâm lí học Hoa Kỳ APA, giới tính chỉ những đặc điểm về sinh học về thể chất nhằm phân biệt giữa giới nam và giới nữ (“Sex” refers to a person’s biological status and is typically categorized as male, female). Giới chỉ những đặc điểm về thái độ, cảm xúc, hành vi mang tính văn hóa xã hội của giới tính sinh học (“Gender” refers to the attitudes, feelings, and behaviors that a given culture associates with a person’s biological sex) [16].
Nhƣ vậy giới và giới tính là hai khái niệm độc lập nhƣng có một quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Ở một mức độ nào đó giới tính cũng chỉ là giới hoặc giới tính lại là một thành phần của giới. Giới là cơ sở để tạo nên giới tính. Ngƣợc lại, giới tính lại phải phù hợp với giới và bị xã hội đánh giá theo giới, giới tính cũng góp phần khắc họa rõ nét thêm về giới [5].
5 “Giáo dục giới tính” là một môn khoa học mà theo nghĩa rộng gồm bao gồm nhiều nội dung khác nhau nhƣ: giải phẫu sinh dục, sự sinh sản, quan hệ tình dục, tránh thai, quyền sinh sản và các khía cạnh khác của thái độ tình dục loài ngƣời. Giáo dục giới tính cũng có thể đƣợc miêu tả là “giáo dục tình dục”, nghĩa là giáo dục về mọi khía cạnh của hoạt động tình dục [20]. GDGT trên thế giới 1. Châu Phi Theo tổ chức phi chính phủ SC-S của Thuỵ Điển đang hoạt động tại châu Phi thì Châu Phi là khu vực có tỷ lệ trẻ em nhiễm HIV rất cao.
Kết quả điều tra ở tiểu vùng Sahara nói riêng và châu Phi nói chung, trẻ em rất muốn biết thêm về giới tính và cách tự bảo vệ mình trƣớc đại dịch HIV/AIDS [21]. Trong thực tế hầu hết HS tiểu học ở đây đều chƣa đƣợc học những kiến thức về giới tính cũng nhƣ cách bảo vệ mình trƣớc đại dịch AIDS. Tuy nhiên ngƣời lớn ở đây lại cho rằng đây là điều không nên nói ra khi các em còn nhỏ. Vì vậy các chƣơng trình GDGT ở tiểu học của châu Phi còn rất nhiều hạn chế.
Châu Á Ở Châu Á các chƣơng trình GDGT đang đƣợc thực hiện ở nhiều mức độ phát triển rất khác nhau, phụ thuộc vào chính sách giáo dục của từng quốc gia [22]. Ví dụ ở Indonesia các vấn đề sức khỏe sinh sản sẽ đƣợc giảng dạy ở tất cả cấp học, từ giáo dục mầm non cho đến trung học. Tại Thái Lan, GDGT đƣợc giảng dạy kỹ cho HS từ lớp 4 đến lớp 6 vì HS nam ở lứa tuổi này thƣờng hay có những hành động không lành mạnh với các bạn gái [23]. Ở Malaysia, nội dung GDGT trở thành một môn học chính thức ở các trƣờng học và chính phủ khuyến cáo trẻ em nên đƣợc GDGT từ năm 4 tuổi.
Nội dung chƣơng trình GDGT cho trẻ em gồm kiến thức sinh sản cần thiết, sự phát triển của con ngƣời, cuộc sống hôn nhân và gia đình, kỹ năng giao tiếp cũng nhƣ cách quan hệ tình dục an toàn [24]. Ở Ấn Độ có một số chƣơng trình GDGT không chính thức với mục tiêu hƣớng tới trẻ em từ chín tới mƣời sáu tuổi và các chủ đề về giới tính sẽ đƣợc HS và GV trao đổi một cách thẳng thắn với nhau [25]. Tại Nhật Bản, GDGT là bắt buộc từ 10 - 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học nhƣ kinh nguyệt và xuất tinh. Ngay từ giai 6 đoạn mẫu giáo trẻ đã đƣợc học cách tự làm sạch cơ thể và hiểu đƣợc sự khác biệt giữa cậu bé và cô bé ở điểm nào.
Trẻ đã có ý thức tự bảo vệ vùng kín của mình và đƣợc cô giáo ở lớp dạy cách sử dụng nhà vệ sinh, giấy vệ sinh hay mặc đồ lót [26]. Ở Trung Quốc, HS đƣợc GDGT ngay từ tiểu học. Năm 2017 Trƣờng Đại học Sƣ phạm Bắc Kinh đã cho ra bộ sách GDGT cho HS từ 6 - 13 tuổi. Các nội dung đƣợc đề cập đến trong bộ sách nhƣ: bình đẳng giới, cuộc sống đƣợc hình thành nhƣ thế nào, em bé đƣợc ra đời ra sao, thủ dâm, tình dục an toàn, các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục.
Đáng chú ý, hình minh họa trong các bài học gồm cả dị tính và đồng tính luyến ái. Bên cạnh đó, sách giáo khoa mới chỉ ra rằng những ngƣời thuộc giới tính khác nhau đều nên đƣợc đối xử công bằng, có quyền sống hạnh phúc và làm cha mẹ [27]. Châu Âu Châu Âu có nền giáo dục khá hiện đại, vì vậy rất nhiều các quốc gia có khung hệ thống về GDGT. Tại Phần Lan, GDGT thƣờng đƣợc tích hợp vào nhiều bài học bắt buộc, chủ yếu nhƣ một phần của các bài giảng về sinh học ở các lớp thấp và các bài giảng liên quan tới các vấn đề sức khoẻ nói chung ở các lớp cao hơn [20].
Ở Thuỵ Điển, GDGT đƣợc tích hợp vào nhiều môn học nhƣ sinh học, lịch sử,… khi trẻ 7 - 10 tuổi. HS không những có đƣợc các kiến thức sinh học liên quan đến giới tính mà còn đƣợc học cả quá trình lịch sử của giới tính và tình dục [20]. Chƣơng trình cung cấp đầy đủ kiến thức về phòng tránh thai cho các em ngay từ khi còn nhỏ. Tại Hà Lan, trẻ em đƣợc GDGT từ rất sớm lúc 4 tuổi.
Khi lên 8, trẻ đƣợc học cách tự nhận thức về bản thân và các loại giới tính. Lên 11, trẻ thảo luận về khuynh hƣớng tình dục và biện pháp tránh thai. HS còn đƣợc thầy cô dạy phải tôn trọng những ngƣời chuyển đổi giới tính, những ngƣời lƣỡng tính, ngƣời đồng tính. Theo qui định của pháp luật, tất cả HS tiểu học Hà Lan phải đƣợc GDGT [28].
Ở Thuỵ Sĩ, GDGT tại các trƣờng tiểu học đƣợc khởi động với mục tiêu giúp trẻ nhận thức đƣợc điều không đƣợc phép và có thể nói "Không" [20]. Tại Đan Mạch, các trƣờng tiểu học bắt đầu đƣa chƣơng trình về giới tính vào giảng dạy nhƣng tập trung vào giải phẫu sinh học, giải thích các giá trị tinh thần, thái độ, kỹ năng giải quyết các vấn đề tuổi dậy thì [25]. Ở nƣớc Anh theo quy định trong pháp luật, trẻ em khi đủ 5 tuổi sẽ bắt đầu đƣợc học về giới tính nhƣ một môn bắt buộc cho đến khi tốt nghiệp trung học cơ sở 7 [24]. Tại nƣớc Pháp và Đức, GDGT là một phần của chƣơng trình học trong trƣờng bắt buộc đối với HS từ nhỏ đến lớn [20].
Bắc Mỹ Ở Mỹ, nội dung GDGT do các bang quyết định. Ở một số bang, nội dung GDGT đƣợc GV tiểu học giới thiệu sơ lƣợc về những bộ phận nhạy cảm trên cơ thể và sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà. Bên cạnh nội dung trên thì ngƣời Mỹ còn dạy cho trẻ em biết quý trọng mạng sống của mình và yêu quý ngƣời khác giới [20]. Giáo dục giới tính ở Việt Nam GDGT ở Việt Nam đƣợc tích hợp trong một số bài học trong môn học nhƣ Khoa học lớp 5, Sinh học 8 và môn Giáo dục công dân.
Trong môn Khoa học 5, HS đƣợc học những kiến thức đơn giản về sự sinh sản, sự khác biệt giữa nam và nữ, cơ thể con ngƣời đƣợc hình thành nhƣ thế nào, cách vệ sinh ở tuổi dậy thì. Trong môn Sinh học lớp 8, HS đƣợc học về cấu tạo cơ quan sinh dục nam và nữ, quá trình thụ tinh, phát triển của phôi thai, cách phòng tránh thai và các bệnh lây lan qua đƣờng tình dục. Nội dung này cũng đƣợc đề cập trong môn giáo dục công dân về tình yêu, hôn nhân và gia đình ở bậc trung học phổ thông. Ở Việt Nam vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về GDGT.
Một số phụ huynh thì cho rằng không cần thiết phải dạy những điều tế nhị này mà đợi “trăng đến rằm trăng tròn”,… Tuy nhiên nhiều phụ huynh bày tỏ sự lo ngại với GV rằng trẻ em cần đƣợc cung cấp các kiến thức về giới tính và không nơi nào có thể đảm nhận việc giảng dạy nội dung này tốt hơn nhà trƣờng. Vì vậy một số năm gần đây vấn đề GDGT cho HS đã đƣợc cởi mở hơn. Nội dung GDGT cũng còn đƣợc cho là khá nhạy cảm vì thế nhiều trƣờng học vẫn chƣa thật sự khai thác triệt để những nội dung cần thiết để dạy cho HS.