Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Năng lực sư phạm của giáo viên tiểu học 1. Năng lực sư phạm 1. Khái niệm Năng lực sư phạm là một loại năng lực.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về năng lực. Theo Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT, Năng lực là “khả năng thực hiện công việc, nhiệm vụ của giáo viên”. Theo Nguyễn Ngọc Bích (1998), Năng lực là “Tổ hợp những thuộc tính tâm lí phù hợp với yêu cầu một loại hoạt động nhằm làm cho hoạt động đó đạt được kết quả” [6]. Theo Phạm Minh Hạc và Lê Đức Phúc (2004) thì “Năng lực sư phạm là tổ hợp những đặc điểm tâm lí của nhân cách nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công của hoạt động ấy” [19, tr.
23] Trong đề tài này, khái niệm năng lực sư phạm đươc xác định như sau:: Năng lực sư phạm là tổ hợp những đặc điểm tâm lí của nhân cách nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công của hoạt động ấy Dựa trên định nghĩa trên, có thể xác định các đặc điểm của năng lực sư phạm như sau: Thứ nhất, năng lực sư phạm là một đặc điểm tâm lý cá nhân. Nó là một loại năng lực nghề nghiệp của cá nhân. Nhiều nhà nghiên cứu xác định cấu trúc năng lực gồm kiến thức, thái độ, và kỹ năng. Sự tăng cường cả 3 khía cạnh này của năng lực đồng nghĩa với việc nâng cao năng lực.
Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay có xu hướng coi năng lực như một chỉnh thể, một thuộc tính của con người [21]. Vì vậy, năng lực cần được hiểu là một tổ hợp thống nhất những đặc điểm tâm lý của nhân cách, chứ không phải là tổng hợp của những đặc điểm tâm lý riêng lẻ. Thứ hai, năng lực sư phạm được hình thành trong quá trình hoạt động sư phạm của cá nhân. Vì thế, muốn tác động (tăng cường) năng lực sư phạm cần phải tạo điều kiện cho cá nhân hoạt động thực tiễn theo chiều hướng phù hợp.
Thứ ba, năng lực sư phạm của giáo viên đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của tổ chức giáo dục. Theo tiếp cận hệ thống, nếu coi giáo viên là một phần của hệ thống giáo dục - nhà trường, thì năng lực của giáo viên có quan hệ mật 7 thiết tới chất lượng giáo dục của nhà trường. Nếu coi năng lực sư phạm là một phần trong các năng lực của giáo viên, thì năng lực sư phạm có quan hệ mật thiết tới hoạt động sư phạm của giáo viên, tới sự tương tác giữa giáo viên với học sinh, cha mẹ học sinh và các cấp quản lý nhà trường. Giáo viên tiểu học 1.
Khái niệm Trong đề tài này, khái niệm giáo viên tiểu học được hiểu như sau: Giáo viên tiểu học là giáo viên dạy trong các trường tiểu học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên tiểu học có thể bao gồm cả giáo viên trường công lập và giáo viên trường tư thục. Đề tài không nghiên cứu giáo viên dạy trình độ tiểu học nhưng không thuộc sự quản lý của một nhà trường cụ thể (như giáo viên dạy thêm tại nhà, giáo viên dạy chương trình tiểu học cho lớp học không chính thức, v. Đặc điểm của giáo viên tiểu học Ngoài những đặc điểm về phẩm chất nhân cách và năng lực của giáo viên tại cơ sở giáo dục phổ thông, giáo viên tiểu học còn có những đặc trưng sau.
Không có môn chuyên trách Khác với giáo viên ở các cấp học cao hơn, giáo viên tiểu học chịu trách nhiệm dạy toàn bộ các môn học trong chương trình tiểu học. Vì vậy, giáo viên tiểu họcphải nắm vững kiến thức của nhiều lĩnh vực, kể cả các bộ môn năng khiếu như hát, vẽ, thể dục. Kiến thức chuyên môn trải rộng nhưng không sâu Tiểu học là cấp học thứ hai trong chương trình giáo dục quốc dân, sau cấp mầm non. Với đặc trưng của học sinh lứa tuổi tiểu học là thích khám phá cái mới, khả năng tập trung đang dần hình thành nhưng không kéo dài, chưa có kiến thức nền tảng, thì chương trình giáo dục tiểu học nhằm mục đích giới thiệu cho học sinh về các lĩnh vực khoa học và xã hội mà các em sẽ tiếp cận sâu hơn ở các cấp học sau.
Vì vậy, yêu cầu về kiến thức đối với giáo viên tiểu học không phải là kiến thức chuyên môn của từng lĩnh vực mà họ giảng dạy, mà là kiến thức tổng quát. Ngoài ra, bản thân việc người giáo viên tiểu học phải dạy tất cả các môn trong chương trình học cũng không cho phép họ có thể thường xuyên trau dồi, cập nhật tri thức ở mọi môn học mà họ giảng dạy, vì vậy kiến thức chuyên môn của giáo viên tiểu học không đòi hỏi sâu nhưng đòi hỏi phải rộng và gắn liền với thực tiễn. Vai trò nêu gương Học sinh ở lứa tuổi tiểu học đang hình thành nhân cáchnhưng chưa có khả năng tư duy sâu, nên học sinh tiểu học hay có xu hướng thần tượng hóa những hình mẫu gần gũi quanh mình (như bố mẹ, ông bà, thầy cô giáo) và bắt chước các hình mẫu này. Vì vậy, giáo viên tiểu học phải thể hiện vai trò nêu gương cho học sinh nhiều hơn giáo viên ở các cấp học cao hơn.
Năng lực sư phạm của giáo viên tiểu học 1. Định nghĩa Dựa trên định nghĩa về năng lực sư phạm, tác giả đưa ra định nghĩa về năng lực sư phạm của giáo viên tiểu học như sau: Năng lực sư phạm của giáo viên tiểu học là tổ hợp những đặc điểm tâm lý của giáo viên tiểu học nhằm đáp ứng những yêu cầu của hoạt động dạy học và giáo dục ở bậc tiểu học. Phân loại năng lực sư phạm của giáo viên tiểu học Tại Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều quy định về chuẩn nghề nghiệp của giáo viên các cấp. Chuẩn nghề nghiệp hệ thống các phẩm chất, năng lực mà người giáo viên cần đạt được.
Vì vậy, chuẩn nghề nghiệp là cơ sở đánh giá năng lực của giáo viên. Với giáo viên tiểu học, chuẩn nghề nghiệp của giáo viên được quy định qua một số văn bản pháp luật như sau. Quyết định số 48/2000/QĐ-BGDĐT ngày 31 tháng 10 năm 2000 là văn bản đầu tiên quy định việc đánh giá, xếp loại giáo viên theo chuyên môn – nghiệp vụ. Trong đó, giáo viên phải đảm bảo thực hiện tốt 3 nhiệm vụ cơ bản: - Nhiệm vụ giảng dạy - Công tác chủ nhiệm lớp và các hoạt động giáo dục khác - Bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trong ba nhiệm vụ trên, việc đánh giá giáo viên được thực hiện chủ yếu trên hai nhiệm vụ đầu, tương ứng với hiệu quả dạy học và giáo dục của giáo viên tiểu học.
Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo lần đầu tiên đưa ra khái niệm chuẩn nghề nghiệp của giáo viên tiểu học trong Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT, trong đó năng lực sư phạm của giáo viên tiểu học thể hiện ở kiến thức sư phạm và kỹ năng sư phạm của giáo viên. Các kiến thức sư phạm cần thiết của giáo viên tiểu học bao gồm: 9 - Kiến thức cơ bản. - Kiến thức về tâm lí học sư phạm và tâm lí học lứa tuổi. - Kiến thức về kiểm tra đánh giá về kết quả học tập, rèn luyện của học sinh.
- Kiến thức phổ thông về chính trị, xã hội và nhân văn, kiến thức liên quan đến từng ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ, tiếng dân tộc. - Kiến thức địa phương về nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Các kỹ năng sư phạm cần thiết của giáo viên tiểu học bao gồm: - Lập được kế hoạch dạy học, biết cách soạn giáo án theo hướng đổi mới. - Tổ chức và thực hiện được các hoạt động dạy học trên lớp phát huy được tính năng động sáng tạo của học sinh.
- Công tác chủ nhiệm lớp, tổ chức được các hoạt động ngoài giờ lên lớp. - Thực hiện thông tin hai chiều trong quản lý chất lượng giáo dục, hành vi giao tiếp, , ứng xử có văn hóa và mang tính giáo dục. - Xây dựng và bảo quản, sử dụng có hiệu quả hồ sơ giáo dục và giảng dạy. Việc đánh giá giáo viên tiểu học theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT được thực hiện trên toàn bộ các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng nêu trên.
Mới đây nhất, năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT quy định năng lực của giáo viên trong cơ sở giáo dục phổ thông (bao gồm cả giáo viên tiểu học). Các năng lực này bao gồm: - Năng lực phát triển chuyên môn, nghiệp vụ - Năng lực xây dựng môi trường giáo dục - Năng lực phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội - Năng lực sử dụng ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc, ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT làm cơ sở xác định năng lực của giáo viên tiểu học. Quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên tiểu học 1. Quản lý Khái niệm quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo cách tiếp cận nghiên cứu.
Các Mác nói về sự ra đời tất yếu của quản lý bằng một cách nói rất hình ảnh và độc đáo: “Một nghệ sĩ độc tấu thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”[1]. 10 Nói đến quản lý là nói đến những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý. Trong cuốn “Cơ sở khoa học về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một số tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2,tr. Còn tác giả Đặng Quốc Bảo lại quan niệm: Quản lý là một quá trình tác động trong đó chủ thể quản lý gây ảnh hưởng tới khách thể quản lý để đạt được mục tiêu chung.
Về phương tiện quản lý: Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục đích cụ thể [5].