chương I, điều 10 có ghi: “Nhà nước bảo đảm tự do NCKH, sáng tác văn học nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác trong các trường cao đẳng theo đúng luật pháp…”, trong đó có quyền và nghĩa vụ NCKH của sinh viên, coi đây là một biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo.[9,tr 257] Ở các nước khác, NCKH được coi là phương tiện để người học khám phá, tìm tòi, là cơ sở để họ có khả năng học tập suốt đời. Ở Hoa Kỳ, trong Chiến lược 1998 – 2000 của Bộ Giáo dục đã ghi nhận NCKHGD góp phần cải thiện nền giáo dục quốc gia… và trong chiến lược này, họ đã xác định những vấn đề ưu tiên tổ chức cho SV NCKH [9, tr414] Francesco Cordasco và Elliots S. Galner trong “Rescarch anh Report -7- 8 Writing” [52], tác giả đặt trọng tâm vào việc tìm tòii các nguyên tắc, phương pháp cũng như công cụ, kỹ thuật NCKH để huấn luyện cho SV. Ở Singapore, năm 1983 Keith Howard và John A.Sharp đã biên soạn tài liệu The management of a student research project [53] nhằm giúp SV biết cách quản lí kế hoạch nghiên cứu thì họ sẽ làm chủ công trình của mình và tất nhiên sẽ tránh những khó khăn, vấp váp khi nghiên cứu.
Các tác giả đã trình bày những vấn đề về chọn lựa đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tập hợp, xử lí và đánh giá kết quả NCKH. Năm 1996, Brian Allison (Singapore) trong Research skills for students Nationnal institute of education [50] đã cung cấp cho sinh viên những lý thuyết về NCKH, đề cập tới kĩ năng tiến hành một cuộc điều tra, thiết kế một bảng hỏi và những kĩ thuật khi sử dụng phương pháp phỏng vấn… Cuốn Education Research, methodolory anh Measurement [54] do John P. Keeves (Australia) làm chủ biên (1996), là một tài liệu có giá trị. Trong tài liệu này, các tác giả đã giới thiệu quá trình tổ chức và hướng dẫn NCKHGD, đặc biệt tác giả chú ý đến việc hướng dẫn SV các thủ tục và kĩ thuật nghiên cứu, phương pháp đo lường, sử dụng máy tính và các thiết bị trong NCKHGD Tóm lại, ở nước ngoài nhiều công trình KH cho thấy các tác giả quan tâm không chỉ về phương diện phương pháp luận mà còn rất quan tâm đến các vấn đề về tổ chức và các chi tiết kĩ thuật cụ thể cần được huấn luyện cho SV Ở trong nước Có rất nhiều bài viết về hoạt động NCKH của SV liên quan đến hai nội dung: một là, khẳng định tầm quan trọng của NCKH đối với SV; hai là, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả của các hoạt động này.
Theo hướng thứ nhất có thể kể đến bài viết hoạt động NCKH của sinh viên [34] “Công tác NCKH của SV là phương pháp có hiệu quả nhất trong việc đào tạo chuyên gia có chất lượng” [34, trang 23]. Nguyễn Cảnh Toàn trong tuyển tập tác phẩm tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu [36] cũng đã nhấn -8- 9 mạnh đến vai trò, tầm quan trọng của NCKH và NCKHGD đối với các trường sư phạm. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh đến trách nhiệm của người thầy ở đại học là phải gây hứng thú tập dượt, tìm tòi, NC cho SV Theo hướng thứ hai, các tác giả đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động NCKHGD của SV. Các tác giả cho rằng cần đưa vào quá trình học tập của SV với các yếu tố NCKH [34].
Các tác giả nhấn mạnh cần đào tạo một cách cơ bản và có hệ thống về phương pháp NCKH cho SV ngay từ năm học thứ nhất. Trong bài viết: “ Việc bồi dưỡng phương pháp NCKH cho sinh viên đại học” của tác giả [23] Phan Huy Lê đã đề xuất cách bồi dưỡng phương pháp NC cho sinh viên khi giảng dạy và kết hợp giảng kiến thức với phương pháp để họ không chỉ nâng cao kiến thức mà còn được rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp khoa học. Có một số bài viết khác như Công tác nghiên cứu khoa học với việc nâng cao chất lượng đào tạo của Nguyễn Tấn Phát [32]; Đưa kết quả NCKHGD vào thực tiễn trường học của Hà thế Ngữ [28]. Các tác giả cho rằng việc đưa NCKHGD vào trường học là một vấn đề quan trọng sẽ thúc đẩy sự phát triển KHGD, đem lại những tiến bộ vững chắc cho công tác dạy học và giáo dục, đồng thời nâng cao hiệu quả đào tạo ở các trường sư phạm.
Năm 1992, Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức xuất bản giáo trình Phương pháp luận và các phương pháp NCKHGD [19]. Các tác giả đã trình bày những khái niệm chung về phương pháp luận khoa học giáo dục (KHGD), những nguyên tắc phương pháp luận và một số vấn đề có tính chất phương pháp luận của KHGD, các phương pháp NCKHGD và những giai đoạn nghiên cứu một đề tài KHGD là những vấn đề cần trang bị cho sinh viên. Năm 1995, Lê Tử Thành với giáo trình Lôgic học và phương pháp luận NCKH [35], đã giải đáp nhu cầu của sinh viên, học viên cao học về kiến thức và cách tiến hành NCKH hợp lí, hiệu quả. Nguyễn Văn Lê, trong tài liệu -9- 10 Phương pháp luận NCKH [24] đã giúp sinh viên biết cách chọn đề tài, chuẩn bị NC và có kiến thức về các phương pháp dùng để NCKH.
Tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa với Phương pháp và kĩ thuật trong NCKH xã hội [29] đã giới thiệu với SV một số vấn đề, phương pháp và kỹ thuật cơ bản trong thu thập và phân tích các dữ kiện xã hội, tác giả chú trọng hơn các phương pháp và kĩ thuật trong nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Năm 1996 -1997, Phạm Viết Vượng biên soạn hai giáo trình phương pháp NCKH [43], nhằm cung cấp cho SV, học viên cao học và nghiên cứu sinh những kiến thức chung về phương pháp luận, phương pháp, cấu trúc công trình nghiên cứu khoa học, các giai đoạn tiến hành một đề tài NCKH và những vấn đề về kĩ năng NCKHGD, để giúp họ thực hiện thành công các công trình NCKH. Năm 1999, Phạm Trung Thanh trong tài liệu Phương pháp học tập và nghiên cứu của sinh viên cao đẳng đại học đã nhấn mạnh việc tập dượt NCKH là một nhiệm vụ quan trọng của SV như làm tiểu luận, khóa luận, luận văn hoặc tham gia nghiên cứu tập thể và một đề tài nào đó cùng thầy cô hoặc do thầy cô hướng dẫn. Ngoài ra, tác giả cũng trình bày sơ lược về quy trình thực hiện các hình thức nghiên cứu cũng như những đòi hỏi về phẩm chất của SV khi tham gia NCKH Ngoài các công trình trên, về mặt pháp lý, Bộ Giáo dục đã có Quy chế về việc làm khóa luận, luận văn tốt nghiệp ở các trường đại học theo QĐ số : 3047/ ĐTBĐ (ngày 15/12/1984) [3] và kèm theo đó là Thông tư số 30, ngày 17/12/1984 đã hướng dẫn thực hiện quy chế nêu trên.
Để phù hợp với hoàn cảnh mới Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra QĐ số 08/2000/QĐ ngày 30/3/2000 về việc ban hành quy chế về NCKH của SV các trường đại học và cao đẳng trong cả nước. Quy chế có 4 chương và 14 điều, gồm những quy định chung về vấn đề quản lý NCKH của SV, trách nhiệm, - 10 - 11 quyền lợi của SV tham gia NCKH và cán bộ hướng dẫn, các điều khoản thi hành về NCKH của SV. Công văn số 7483/KHCN, của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 30/7/2000 về việc xét tặng giải thưởng “Sinh viên NCKH” trong các trường ĐH và các học viện [4]. Nội dung công văn gồm các tiêu chuẩn, phương pháp đánh giá, xếp loại các công trình NCKH của SV, phân cấp việc đánh giá, xét thưởng.
Đây là những văn bản chỉ đạo của Bộ GD và ĐT về NCKH của SV ở tất cả các khâu nhằm giúp các nhà quản lý, cán bộ hướng dẫn và SV thực hiện đúng các yêu cầu đối với công tác NCKH của SV. Trong năm 2000, có hai luận văn của Cao Thị Thu Hằng và Nông Thị Hạnh [15] đã đề cập tới việc tìm hiệu thực trạng và các giải pháp nâng cao kết quả rèn luyện NCKHGD của SV trường Cao đẳng sư phạm Hải Dương và Cao Bằng. Các tác giả đã phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả NCKH của SV các trường cao đẳng sư phạm trên và từ đó đưa ra các biện pháp nhắm nhằm nâng cao kết quả NCKH của SV. Tóm lại, qua tất cả các văn bản và công trình nghiên cứu trong và ngoài nước từ trước đến nay về vấn đề tổ chức NCKH cho sinh viên, có thể thấy rằng tác giả đã rất quan tâm đến các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp tổ chức quản lý công tác NCKH của SV cũng như những kỹ thuật và thủ tục tổ chức cho sinh viên NCKH.
Những kết quả NC trên đã góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng NCKH của SV trong các trường ĐH, CĐ. Tuy nhiên, để việc phát triển kỹ năng NCKH cho SV nói chung và SV ngành Tiểu học nói riêng có chất lượng và có hiệu quả cao trong các lĩnh vực nghiên cứu thì chúng ta cần tăng cường nghiên cứu các biện pháp cụ thể và phù hợp từng đối tượng với thực tế đào tạo tại cơ sở cũng như tại các trường ĐH, CĐ trong giai đoạn hiện nay. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm Xem xét các công trình nghiên cứu từ trước đến nay, thông qua các khái niệm chúng tôi thấy vẫn tồn tại hai quan niệm về kĩ năng (KN).
Quan niệm 1: Coi KN là mặt kĩ thuật của một thao tác, hành động hay một hoạt động nào đó. Muốn thực hiện được một hành động, cá nhân phải hiểu được mục đích, phương thức và điều kiện để thực hiện nó. Vì vậy nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực hiện nó trong thực tiễn theo các yêu cầu khác nhau tức ta đã có KN về hành động.Kruchexki thì: “KN là các phương thức thực hiện hoạt động, những cái mà con người đã nắm vững”. Ông cho rằng: Chỉ cần nắm vững phương thức của hành động là con người có KN, không cần đến kết quả hoạt động của cá nhân [ tr78].
Trong cuốn “Tâm lí học cá nhân”.G cũng xem: “KN là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” [ tr11]. Khi bàn về KN, Trần Trọng Thuỷ cũng cho rằng: “KN là mặt kĩ thuật của hành động. Con người nắm được cách thức hành động - tức kĩ thuật của hành động là có KN” [ tr2]. Quan niệm 2: Coi KN không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành động mà còn là một biểu hiện năng lực của con người.