Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học, môn Tiếng Việt giữ vai trò nền tảng, là công cụ giao tiếp và phương tiện chủ đạo giúp học sinh lĩnh hội tri thức, rèn luyện tư duy và phát triển toàn diện các kỹ năng ngôn ngữ: đọc, viết, nói và nghe. Phân môn Kể chuyện giữ vị trí đặc thù khi trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực nói – giao tiếp, đồng thời bồi dưỡng xúc cảm thẩm mĩ, nuôi dưỡng trí tưởng tượng và định hình nhân cách học sinh thông qua hệ thống tác phẩm văn học nghệ thuật.
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, việc tổ chức dạy học Kể chuyện lớp 4 còn bộc lộ nhiều hạn chế. Giáo viên chưa khai thác tối đa vai trò của phân môn, phương pháp giảng dạy còn nặng về truyền đạt một chiều, chưa tạo được sự liên kết giữa các mạch kiến thức ngôn ngữ cũng như chưa gắn kết nội dung bài học với thực tiễn đời sống. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học, đề tài "Dạy học kể chuyện ở lớp 4 từ quan điểm tích hợp" được tác giả Hà Thị Ngọc Hà thực hiện nhằm xây dựng các biện pháp dạy học tích hợp có cơ sở khoa học và tính khả thi cao.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm hai nội dung chính:
- Nhận thức đầy đủ và thực hiện triệt để quan điểm dạy học tích hợp; phân tích và làm rõ cơ sở khoa học để tổ chức dạy học tích hợp vào tiết Kể chuyện.
- Tìm ra các biện pháp dạy học tích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêng.
Để hoàn thành mục tiêu trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của các vấn đề dạy học tích hợp, kể chuyện trong môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêng.
- Thống kê, phân loại các nội dung tích hợp vào phân môn Kể chuyện; khảo sát và đánh giá thực trạng dạy học kể chuyện lớp 4 từ quan điểm tích hợp tại cơ sở thực nghiệm.
- Đề xuất hệ thống biện pháp dạy học tích hợp trong phân môn Kể chuyện ở lớp 4 và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4 tiếp cận từ quan điểm tích hợp.
Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm trên đối tượng học sinh khối lớp 4 tại Trường Tiểu học Gia Cẩm, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vào năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên các văn bản chỉ đạo của ngành giáo dục và các quan niệm học thuật về dạy học tích hợp:
- Cơ sở định hướng và pháp lý: Căn cứ vào Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông theo hướng tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; các tài liệu tập huấn chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Khái niệm và cấp độ tích hợp: Tiếp cận định nghĩa tích hợp của UNESCO, Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Giáo dục học và các tài liệu chuyên ngành. Tích hợp trong dạy học được xác định là quan điểm sư phạm kết nối các đối tượng nghiên cứu, học tập thuộc nhiều lĩnh vực/phân môn khác nhau vào cùng một kế hoạch bài dạy. Tác giả phân chia tích hợp thành 3 hình thức (đa môn, liên môn, xuyên môn) và 3 mức độ thực hiện (lồng ghép - liên hệ, vận dụng kiến thức liên môn, hòa trộn), đồng thời hệ thống hóa quy trình 7 bước tổ chức chủ đề tích hợp.
Khóa luận sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu lý luận dạy học, chương trình và sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 để xây dựng khung cơ sở lý thuyết cho đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Tri giác trực tiếp các giờ dạy Kể chuyện lớp 4 để thu thập thông tin về hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát nhận thức và thực trạng áp dụng dạy học tích hợp trên mẫu nghiên cứu gồm 20 giáo viên các khối lớp và 500 học sinh khối lớp 4 tại Trường Tiểu học Gia Cẩm (phát ra 520 phiếu, thu về 520 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 100%).
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý, phân tích số liệu điều tra và kết quả kiểm tra thực nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có nhóm đối chứng nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất.
Nội dung chính theo từng chương
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về dạy học tích hợp, phân tích đặc điểm chương trình Kể chuyện lớp 4 và phản ánh thực trạng dạy học tích hợp tại địa bàn nghiên cứu.
Về mặt lý luận, tác giả tổng hợp quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục trong nước (như GS. Nguyễn Minh Thuyết, TS. Vũ Thị Ân, ThS. Hoàng Trường Giang, ThS. Lê Văn Trung...). Dạy học tích hợp giúp giảm tải kiến thức trùng lặp, tăng cường tính thực hành, gắn bài học với đời sống thực tế và hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Khóa luận chỉ ra quy trình 7 bước thiết kế dạy học tích hợp:
- Xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt sau khi kết thúc chủ đề;
- Lựa chọn chủ đề/tình huống dạy học tích hợp có ý nghĩa;
- Xác định các yếu tố khác trong quá trình dạy học (hình thức, phương pháp, phương tiện);
- Thiết kế các hoạt động dạy học tích hợp;
- Xây dựng, thiết kế công cụ đánh giá;
- Tổ chức dạy học;
- Đánh giá và điều chỉnh.
Khóa luận thống kê toàn bộ chương trình Kể chuyện lớp 4 gồm 35 tuần theo 10 chủ điểm chính, phân thành 3 dạng bài: Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (10 tiết); Kể chuyện đã nghe, đã đọc (12 tiết); Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (9 tiết); cùng các tiết ôn tập định kỳ.
Về mặt thực tiễn, tác giả khảo sát tại Trường Tiểu học Gia Cẩm (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) – trường có 91 cán bộ, giáo viên, nhân viên, 43 lớp và 1.984 học sinh. Kết quả điều tra thực trạng được tổng hợp cụ thể qua các bảng số liệu sau:
| Nhận thức của GV về sự cần thiết dạy học tích hợp |
Số lượng (n=20) |
Tỷ lệ (%) |
| Rất cần thiết |
5 |
25,0% |
| Cần thiết |
13 |
65,0% |
| Bình thường |
2 |
10,0% |
| Không cần thiết |
0 |
0,0% |
| Mức độ sử dụng dạy học tích hợp của GV |
Số lượng (n=20) |
Tỷ lệ (%) |
| Luôn sử dụng |
0 |
0,0% |
| Sử dụng nhiều |
3 |
15,0% |
| Sử dụng ít |
17 |
85,0% |
| Chưa từng sử dụng |
0 |
0,0% |
| Đánh giá của GV về tác dụng tiếp thu của HS |
Số lượng (n=20) |
Tỷ lệ (%) |
| Học sinh không tiếp thu được bài học |
0 |
0,0% |
| Học sinh tiếp thu được một phần nội dung bài học |
1 |
5,0% |
| Học sinh tiếp thu đầy đủ nội dung bài học |
10 |
50,0% |
| Học sinh tiếp thu nhanh nội dung bài học |
9 |
45,0% |
| Đánh giá của GV về không khí lớp học khi dạy tích hợp |
Số lượng (n=20) |
Tỷ lệ (%) |
| Không khí lớp học trầm |
0 |
0,0% |
| Không khí lớp học thoải mái |
11 |
55,0% |
| Không khí lớp học sôi động |
9 |
45,0% |
| Mức độ hứng thú của học sinh (Khảo sát 500 HS) |
Số lượng (n=500) |
Tỷ lệ (%) |
| Rất hứng thú |
235 |
47,0% |
| Hứng thú |
254 |
50,8% |
| Bình thường |
11 |
2,2% |
| Không hứng thú |
0 |
0,0% |
Kết quả khảo sát cho thấy 90% giáo viên nhận thức việc dạy tích hợp là cần thiết và rất cần thiết; 97,8% học sinh hào hứng khi được học các tiết học tích hợp. Tuy nhiên, có tới 85% giáo viên mới chỉ dừng lại ở mức độ "sử dụng ít", phản ánh sự lúng túng trong phương pháp thiết kế và tổ chức thực tế.
CHƢƠNG 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP TRONG PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN Ở LỚP 4
Chương 2 đề xuất hệ thống các biện pháp dạy học tích hợp dựa trên đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học (trí nhớ trực quan - hình tượng chiếm ưu thế, tư duy cảm tính, chú ý không chủ định còn mạnh) và tuân thủ 4 nguyên tắc sư phạm:
- Đảm bảo mục tiêu giáo dục, hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cần thiết cho người học;
- Tăng tính thực hành và vận dụng, gắn liền với thực tiễn xã hội và địa phương;
- Đảm bảo tính khoa học, vừa sức với học sinh;
- Xây dựng nội dung tích hợp dựa trên chương trình hiện hành.
Tác giả thiết kế 3 nhóm biện pháp chính:
1. Dạy học kể chuyện theo hình thức tích hợp nội môn
- Tích hợp theo chiều ngang (đồng quy): Khai thác mối liên hệ giữa các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn và Kể chuyện trong cùng một chủ điểm tuần. Ví dụ: trong chủ điểm "Những người quả cảm", vốn từ về lòng dũng cảm học được ở phân môn Luyện từ và câu (gan dạ, anh hùng, quả cảm, can trường...) cùng văn cảnh từ bài Tập đọc (Dế Mèn bênh vực kẻ yếu, Khuất phục tên cướp biển...) được học sinh huy động trực tiếp vào bài Kể chuyện về lòng dũng cảm để làm phong phú lời kể.
- Tích hợp theo chiều dọc (đồng tâm): Kế thừa và mở rộng kiến thức từ các lớp dưới lên lớp trên. Ví dụ: chủ điểm "Người ta là hoa đất" ở lớp 4 mở rộng và nâng cao từ chủ điểm "Sáng tạo" ở lớp 3.
- Tích hợp theo 4 nhóm kỹ năng ngôn ngữ:
- Kỹ năng nói: Rèn luyện kỹ năng phát biểu, kể chuyện nghệ thuật trước tập thể, điều chỉnh ngữ điệu, nét mặt và cử chỉ theo tính cách nhân vật (như cách mượn vai trong bài Búp bê của ai?).
- Kỹ năng nghe: Tổ chức rèn luyện 5 mức độ nghe (nghe phân biệt, nghe hiểu, nghe thưởng thức, nghe thấu cảm và nghe phê phán).
- Kỹ năng đọc (đọc hiểu văn bản truyện): Hướng dẫn học sinh xử lý văn bản truyện theo quy trình 4 thao tác nhận thức:
- Tóm tắt kể lại câu chuyện: Trả lời các câu hỏi định hướng (Ai? Ở đâu? Khi nào? Cái gì? Tại sao? Bằng cách nào?);
- Tạo kết nối: Liên hệ câu chuyện với bản thân, thực tế đời sống hoặc các tác phẩm khác;
- Dự đoán: Phán đoán các hướng phát triển tiếp theo của tình huống và số phận nhân vật;
- Suy luận: Khai thác các chi tiết ẩn ý, đọc giữa các dòng chữ để hiểu tư tưởng tác phẩm (minh họa qua văn bản truyện Khát vọng sống).
- Kỹ năng viết: Chuyển hóa ngôn ngữ viết thành ngôn ngữ nói sinh động.
2. Dạy học kể chuyện theo hình thức tích hợp liên môn
Kết nối phân môn Kể chuyện với các môn học khác như Mỹ thuật, Âm nhạc, Khoa học, Lịch sử và Địa lý. Biện pháp này khai thác việc sử dụng phương tiện trực quan tự làm nhằm kích thích giác quan của học sinh:
- Sử dụng mô hình tranh 3D và mô hình sa bàn (ví dụ sa bàn cho truyện thơ Nàng tiên ốc);
- Ứng dụng mô hình con rối trong đóng vai nhân vật;
- Sử dụng các dụng cụ tạo âm thanh và tiếng động mô phỏng môi trường tự nhiên trong tiết kể chuyện.
3. Dạy học tích hợp xuyên môn
Tích hợp rèn luyện các kỹ năng mềm, phẩm chất đạo đức và các nội dung giáo dục xã hội có tính thời sự vào bài kể chuyện: giáo dục kỹ năng sống, ý thức bảo vệ môi trường xung quanh (tuần 24), phòng tránh tai nạn thương tích, an toàn giao thông, chủ quyền biển đảo, và học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
Chương 3 trình bày việc tổ chức thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Gia Cẩm nhằm kiểm định tính đúng đắn và hiệu quả của hệ thống biện pháp đã xây dựng.
- Nội dung và tiến trình: Tác giả xây dựng các giáo án thực nghiệm theo hướng dạy học tích hợp (tích hợp nội môn, liên môn và xuyên môn), sử dụng đồ dùng trực quan (sa bàn, tranh 3D, con rối, đóng vai) và tiến hành giảng dạy song song trên nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) có trình độ tương đương.
- Phương pháp đánh giá:
- Đánh giá định tính: Quan sát thái độ học tập, mức độ chủ động, khả năng tương tác, sự tự tin diễn đạt trước đám đông và năng lực cảm thụ văn học của học sinh hai nhóm.
- Đánh giá định lượng: Tiến hành kiểm tra khảo sát chất lượng đầu vào và kiểm tra đánh giá chất lượng đầu ra sau quá trình thực nghiệm, thống kê phân phối điểm số và tỷ lệ xếp loại của học sinh hai nhóm để so sánh mức độ tiến bộ.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Dữ liệu thực trạng: Xác lập bức tranh thực tế về nhận thức và mức độ vận dụng dạy học tích hợp trong phân môn Kể chuyện tại trường tiểu học: 90% giáo viên khẳng định tính cần thiết nhưng 85% thừa nhận ít sử dụng trong thực tế giảng dạy do thiếu quy trình cụ thể.
- Hệ thống biện pháp tích hợp 3 cấp độ: Xây dựng chi tiết cách thức triển khai tích hợp nội môn (đồng quy - đồng tâm, 4 kỹ năng nghe - nói - đọc - viết và quy trình đọc hiểu 4 bước), tích hợp liên môn (sử dụng sa bàn, tranh 3D, con rối, âm thanh từ Mỹ thuật, Âm nhạc) và tích hợp xuyên môn (kỹ năng sống, môi trường, biển đảo).
- Hiệu quả thực nghiệm: Phân tích định tính và định lượng trong thực nghiệm sư phạm chứng minh nhóm học sinh được học theo phương pháp tích hợp có sự chuyển biến rõ rệt về kỹ năng diễn đạt, khả năng sử dụng từ ngữ linh hoạt, phong thái tự tin và mức độ hứng thú học tập cao hơn so với nhóm đối chứng dạy theo phương pháp truyền thống.
Đề xuất và kiến nghị
- Đối với giáo viên: Cần nắm vững bản chất và các cấp độ tích hợp; chủ động nghiên cứu chương trình để xác lập mối liên hệ giữa các phân môn và liên môn; đầu tư thiết kế kế hoạch bài dạy linh hoạt, tăng cường đồ dùng trực quan tự làm và hình thức đóng vai, thảo luận nhóm.
- Đối với nhà trường và tổ chuyên môn: Tăng cường tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội thảo chuyên đề về dạy học tích hợp; đầu tư, bổ sung trang thiết bị, phương tiện dạy học phục vụ đổi mới phương pháp giảng dạy phân môn Kể chuyện.
Đóng góp khoa học
- Hệ thống hóa và cụ thể hóa lý luận dạy học tích hợp vào phân môn Kể chuyện lớp 4;
- Cung cấp tài liệu thực tiễn và bộ giải pháp dạy học có tính ứng dụng cụ thể, minh họa bằng các bài học trong sách giáo khoa hiện hành, hỗ trợ giáo viên tiểu học chuyển đổi phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm chỉ mới thực hiện tại một đơn vị trường học (Trường Tiểu học Gia Cẩm, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), chưa mở rộng khảo sát ở các trường thuộc vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu và thử nghiệm các biện pháp dạy học tích hợp trên phạm vi toàn bộ mạch Nói và Nghe trong Chương trình Giáo dục phổ thông mới (CT GDPT 2018) ở tất cả các khối lớp cấp tiểu học (lớp 1, 2, 3, 4, 5).
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non: Bổ sung kiến thức chuyên ngành về lý thuyết dạy học tích hợp và phương pháp giảng dạy phân môn Kể chuyện/mạch Nói và Nghe.
- Giáo viên tiểu học: Tham khảo quy trình 7 bước thiết kế bài dạy tích hợp, 4 bước rèn luyện kỹ năng đọc hiểu - kể chuyện (Tóm tắt, Tạo kết nối, Dự đoán, Suy luận), cùng các kỹ thuật sử dụng sa bàn, con rối và tranh 3D trong giờ kể chuyện.
- Cán bộ quản lý chuyên môn cấp tiểu học: Làm cơ sở định hướng tổ chức các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt theo hướng tích hợp và phân hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Gia Cẩm cho thấy tỷ lệ giáo viên thường xuyên sử dụng dạy học tích hợp trong phân môn Kể chuyện là bao nhiêu?
Số liệu khảo sát 20 giáo viên cho thấy: tỷ lệ giáo viên "luôn sử dụng" là 0%; "sử dụng nhiều" chiếm 15% (3 giáo viên); "sử dụng ít" chiếm tỷ lệ cao nhất với 85% (17 giáo viên); và "chưa từng sử dụng" là 0%.
2. Khóa luận đề xuất quy trình 4 thao tác nào để rèn luyện kỹ năng đọc hiểu - kể chuyện cho học sinh?
Tác giả đề xuất 4 thao tác đọc hiểu gồm:
- Tóm tắt kể lại câu chuyện (thông qua hệ thống câu hỏi Ai, Ở đâu, Khi nào, Cái gì, Tại sao, Bằng cách nào);
- Tạo kết nối (liên hệ với trải nghiệm bản thân, đời sống thực tế và các tác phẩm khác);
- Dự đoán (phán đoán các diễn biến và kết cục tiếp theo);
- Suy luận (tìm kiếm các chi tiết ẩn ý để lý giải bản chất nhân vật và tư tưởng tác phẩm).
3. Chương trình phân môn Kể chuyện lớp 4 gồm những dạng bài cơ bản nào?
Chương trình gồm 3 dạng bài chính được bố trí xuyên suốt 35 tuần theo 10 chủ điểm:
- Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (10 tiết);
- Kể chuyện đã nghe, đã đọc (12 tiết);
- Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (9 tiết).
4. Khóa luận đề xuất các phương tiện trực quan cụ thể nào để hỗ trợ dạy học kể chuyện tích hợp liên môn với Mỹ thuật và Âm nhạc?
Tác giả đề xuất sử dụng mô hình tranh 3D, mô hình sa bàn (như sa bàn chuyện thơ Nàng tiên ốc), mô hình con rối phục vụ hoạt động đóng vai, và các dụng cụ tạo âm thanh/tiếng động mô phỏng môi trường tự nhiên.
5. Đánh giá của 500 học sinh lớp 4 về mức độ hứng thú khi học kể chuyện theo hướng tích hợp đạt kết quả ra sao?
Khảo sát 500 học sinh lớp 4 ghi nhận: 47% học sinh (235 em) đánh giá "rất hứng thú"; 50,8% (254 em) đánh giá "hứng thú"; 2,2% (11 em) đánh giá "bình thường"; và 0% học sinh cảm thấy "không hứng thú".
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hà Thị Ngọc Hà đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng dạy học tích hợp trong phân môn Kể chuyện lớp 4 tại Trường Tiểu học Gia Cẩm. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống biện pháp dạy học tích hợp đồng bộ ở 3 cấp độ (nội môn, liên môn, xuyên môn) kết hợp quy trình rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ và sử dụng phương tiện trực quan sinh động. Kết quả thực nghiệm sư phạm bước đầu khẳng định tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học hiện nay.