Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dƣỡng giảng viên đại học theo tiếp cận năng lực Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dƣỡng giảng viên tại Trung tâm Hợp tác Đào tạo và Bồi dƣỡng, Trƣờng Đại học Giáo dục theo tiếp cận năng lực Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dƣỡng giảng viên tại Trung tâm Hợp tác Đào tạo và Bồi dƣỡng, Trƣờng Đại học Giáo dục theo tiếp cận năng lực 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng giảng viên trong các trường đại học Những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi giảng viên trong các trƣờng đại học có thể kể đến: Các tác giả James M. Banner Jr và Harold C.
Cannon đề cập ở quyển sách “The Element of Teaching” đã chỉ ra sự thành công của GV gắn với các phẩm chất “giỏi nghề”; “tự học” “uy tín”; “sáng tạo”; “lòng trắc ẩn”. và nhấn mạnh sự ổn định về mặt cảm xúc của GV là rất quan trọng. Để đánh giá năng lực của GV, các tác giả cũng chỉ ra các tiêu chí liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của một GV. Với GVĐH có chức năng chính là giảng dạy, nghiên cứu khoa học và dịch vụ (hay phục vụ cộng đồng) thì nội dung bồi dƣỡng cũng gắn với 3 nhiệm vụ đó; tuy nhiên các trƣờng đại học ở các nƣớc phát triển rất chú trọng bồi dƣỡng năng lực NCKH cho GVĐH vì họ cho đó là nền tảng để làm tốt nhiệm vụ kèm theo của một GVĐH [17].
Tác giả Đào Thị Oanh đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực nghiệp vụ sƣ phạm, nghiên cứu khoa học giáo dục, quản lý quá trình đào tạo cho giảng viên đại học sƣ phạm, trong đó nhấn mạnh đến các giải pháp tập trung vào 3 chức năng của giảng viên, đó là: Giảng dạy, NCKH và phục vụ cộng đồng [20]. Tác giả Trần Xuân Bách (2016) cho rằng cần đánh giá giảng viên đại học dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó, tiêu chí rất quan trọng là tự học, tự bồi dƣỡng. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010) đã nêu lên những khái niệm cơ bản của khoa học quản lý cũng nhƣ sự quản lý của các học thuyết quản lý làm nền tảng về cơ sở lý luận cho lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực trong GDĐH nói riêng [6]. 7 Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Trọng Hậu, Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Sĩ Thƣ (2012) đã khái quát những vấn đề chung về QLGD, quá trình hình thành lý luận QLGD, các mô hình QLGD.
và đặc biệt, cuốn sách đã chỉ ra những khác biệt giữa lý luận QLGD với các lĩnh vực khác cũng nhƣ các đặc trƣng của QLGD trong thế kỷ XXI. Tác giả Phạm Văn Thuần (2009) đã nghiên cứu các giải pháp về quản lý đội ngũ GV trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực ở Việt Nam theo quan điểm tự chủ và trách nhiệm xã hội đã làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận và tổng kết kinh nghiệm quốc tế về quản lý đội ngũ GV trong các cơ sở GDĐH, từ đó đề xuất những biện pháp quản lý công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ nói chung và GV nói riêng trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực [32]. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng giảng viên tại các trường đại học theo tiếp cận năng lực Tác giả Nguyễn Kiều Oanh (2013) đã đề xuất mô hình quản lý hoạt động bồi dƣỡng nghiệp vụ sƣ phạm cho GVĐH theo cách tiếp cận CDIO. Luận án đi sâu nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dƣỡng đội ngũ GV trƣờng đại học, tuy nhiên chỉ tập trung vào nội dung bồi dƣỡng NVSP.
Tác giả Đinh Viết Xuân (2009) đã tập trung nghiên cứu những biện pháp quản lý bồi dƣỡng GV đang trực tiếp giảng dạy tại Trƣờng Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp và những biện pháp quản lý bồi dƣỡng về chuyên môn cho đội ngũ GV đó là bồi dƣỡng chuyên môn chuyên ngành và NVSP. Tác giả Hoàng Thái Sơn (2010) đã nghiên cứu về công tác bồi dƣỡng GV trẻ, một bộ phận của đội ngũ GV. Theo tác giả, đội ngũ GV trẻ có những đặc thù riêng, vì vậy công tác bồi dƣỡng, quản lý hoạt động bồi dƣỡng đội ngũ này cũng có những biện pháp mang tính đặc thù… Theo Nguyễn Thanh Thúy (2019), quản lý hoạt động bồi dƣỡng đội ngũ GV là những tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý nhằm làm cho hoạt động bồi dƣỡng GV đạt chất lƣợng và hiệu quả cao, thực hiện tốt nhất mục tiêu và nhiệm vụ bồi dƣỡng. 8 Nhìn chung: Mặc dù đã có một số nghiên cứu về vấn đề bồi dƣỡng giảng viên, song cho đến nay, theo hiểu biết của tác giả, vẫn chƣa có nghiên cứu nào nghiên cứu vấn đề “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giảng viên tại Trung tâm Hợp tác Đào tạo và Bồi dưỡng, Trường Đại học Giáo dục theo tiếp cận năng lực”.
Đây chính là nhiệm vụ của đề tài luận văn này. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Mỗi quan niệm phản ánh những khía cạnh, nội dung khác nhau của quá trình, hoạt động quản lý.
Tuy nhiên, các quan niệm đều đề cập đến những nội dung cơ bản của quản lý là: Chủ thể và đối tƣợng quản lý, mục tiêu, nội dung, hình thức và phƣơng pháp quản lý.Mark: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”. Ông coi sự xuất hiện quản lý khoa học là hậu quả tất yếu của sự biến đổi nhiều quá trình lao động đơn lẻ, rời rạc, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội đƣợc kết hợp chặt chẽ. Ông viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân…Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Tác giả Frederick Winslow Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo ông có 4 nguyên tắc quản lý khoa học. Đó là: Phân tích một cách khoa học từng khía cạnh của một công việc và lựa chọn phƣơng pháp tối ƣu nhất để thực hiện; Lựa chọn ngƣời và hƣớng dẫn họ thực hiện công việc theo phƣơng pháp khoa học; Ngƣời quản lý phải cộng tác chặt chẽ, toàn diện với ngƣời bị quản lý nhằm bảo đảm chắc chắn rằng họ thực hiện theo phƣơng pháp khoa học; Có sự phân chia trách nhiệm rõ ràng giữa ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý. 9 Một số tác giả khác cũng đƣa ra những định nghĩa khác nhau về quản lý.Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những n lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm tổ chức. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
Henry Fayol cho rằng: “Quản lý có 5 chức năng cơ bản là: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Sau này, các nhà quản lý và lý luận đã tổng hợp lại thành 4 chức năng là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Nhƣ vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tƣơng tác có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý để khai thác có hiệu quả nhất các nguồn lực, các cơ hội của tổ chức nhằm hoàn thành mục tiêu đề ra với hiệu suất cao nhất. Bồi dưỡng Theo tác giả Nguyễn Duy Hƣng: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hóa kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc thêm về nghiệp vụ, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp.
Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để lao động có hiệu quả hơn”. Theo quan niệm của UNESCO:“Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”. Tác giả Nguyễn Minh Đƣờng cùng nhóm tác giả đề tài KX 07-14 cho rằng: “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường xuyên được xác nhận bằng một chứng chỉ”. Đây là khái niệm phù hợp nhất với nội dung và 10 tính chất của Luận văn.
Vì vậy, tác giả sẽ sử dụng khái niệm này để xây dựng khung lý luận của đề tài. Giảng viên Quan niệm về giảng viên: Theo Từ điển tiếng Việt: “Giảng viên: Tên gọi chung ngƣời làm công tác giảng dạy ở các trƣờng chuyên nghiệp, các lớp đào tạo, huấn luyện, các trƣờng trên bậc học phổ thông…”. Khoản 1 Điều 66 Luật GD năm 2019 quy định: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở GD mầm non, GD phổ thông, cơ sở GD khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên. Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là ngƣời có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp; có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ; có trình độ theo quy định của Luật Giáo dục đại học, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học.
Chức danh giảng viên bao gồm hiệu trƣởng, giảng viên, giảng viên cơ hữu, phó giáo sƣ, giáo sƣ. Giảng viên đƣợc cơ sở giáo dục đại học tuyển dụng theo quy định của Luật Giáo dục, quy chế tổ chức và hoạt động, quy định về vị trí việc làm và nhu cầu tuyển dụng của cơ sở giáo dục đại học. Trình độ tối thiểu của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là cử nhân, trừ chức danh trợ giảng; trình độ của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ thạc sĩ, tiến sĩ là tiến sĩ.