CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY GIỎI Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu trên thế giới Giáo dục luôn được các quốc gia trên thế giới xem là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục chính là sự đầu tư cho phát triển đất nước. Để phát triển giáo dục chất lượng, hiệu quả thì rất cần có những người thầy giáo giỏi.
Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên dạy giỏi ở các trường tiểu học là vấn đề rất quan trọng và thiết thực. Khi có nhiều giáo viên dạy giỏi sẽ có nhiều trò giỏi, nhiều công dân giỏi cho quốc gia. Nghiên cứu của Blackwell R, Blackmonre (2003) đã đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên; xây dựng các khoa thành những cộng đồng học tập và đào tạo giáo viên, khuyến khích việc dạy học dựa trên các kết quả nghiên cứu; đưa công nghệ thông tin vào quá trình bồi dưỡng đội ngũ và tạo các điều kiện hỗ trợ việc phát triển đội ngũ [25]. Andy Hargreaves, Michael Fullan (2012) bằng kết quả nghiên cứu thực tiễn đã khẳng định điều quan trọng trong phát triển giáo viên là: “Việc phát triển giáo viên mang tính đặc thù của bối cảnh, loại hình trường, giai đoạn phát triển sự nghiệp của giáo viên, hình thức tuyển dụng bổ nhiệm và hình thức tổ chức thực hiện đào tạo bồi dưỡng giáo viên” [23].
Những nghiên cứu trong nước Bác Hồ luôn luôn đánh giá cao vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người thầy đối với xã hội, đối với sự nghiệp trồng người cho tương lai. Theo Bác, mối quan hệ giữa người thầy với giáo dục và sự phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước là một quá trình thống nhất. Trong đó, người thầy giáo là 7 chủ thể có vị trí cực kỳ quan trọng và rất vẻ vang. Người nói: “Nhiệm vụ thầy giáo rất vẻ vang vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục… Không có giáo dục thì nói gì đến kinh tế, văn hóa”.
Bác xem việc dạy học là một nghề đào luyện những thế hệ con người để xây dựng xã hội ngày càng phát triển. Tuy sự cống hiến của thầy giáo là rất thầm lặng nhưng nếu trở thành một người thầy giáo tốt là điều vô cùng hữu ích và rất mực vẻ vang. Người thầy giáo là hạt nhân của sự nghiệp giáo dục, mà giáo dục có mối liên hệ mật thiết với tất cả các lĩnh vực khác bởi nó là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực cho mọi ngành nghề trong xã hội. Thấm nhuần được quan điểm này, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và nhiệm vụ thiêng liêng, cao quý của giáo dục là phải tập trung thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”.
Ngày 29/04/2016, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới, căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến 2025” với yêu cầu “Nâng cao toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nói riêng và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nói chung. Bảo đảm nâng cao năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ sư phạm; ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; gắn đào tạo, bồi dưỡng với nhu cầu và quy hoạch sử dụng lâu dài. Ngày 22 tháng 08 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Trong thời gian qua, có một số tác giả đã đề cập, nghiên cứu công tác phát triển đội ngũ giáo viên ở các trường học như sau: 8 Đặng Thị Kim Vân (2013), Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Hưng Yên đáp ứng yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội [21].
Phạm Ngọc Hải (2015), Quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường mầm non tư thục trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên [9]. Trần Thị Phúc (2016), Một số kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giỏi, Sáng kiến kinh nghiệm, Trường Tiểu học Trung Hòa, Hà Nội [17]. Trần Ngọc Trang Hoa (2019), Phát triển đội ngũ giáo viên dạy giỏi cấp tiểu học thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học sư phạm, Đại học Huế [12]. Đỗ Thị Bích Ngọc (2019), Phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam [16].
Nguyễn Việt Phương (2020), Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiểu học theo chuẩn nghề nghiệp tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam [18]. Phạm Thị Quỳnh Hoa (2021), Bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên dạy giỏi – Xây dựng chất lượng mũi nhọn trong trường tiểu học Thanh Xuân Trung, Sáng kiến kinh nghiệm, Trường Tiểu học Thanh Xuân Trung, Hà Nội [11]. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Có thể nói rằng khái niệm quản lý là một khái niệm rộng, trên cơ sở tiếp cận khác nhau mà được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, có thể trích dẫn một số khái niệm về quản lý như sau: Theo F.
Taylor: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu nhất định. Theo Harold Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Trong một tổ chức, quản lý là hoạt động, là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Theo tiếp cận chức năng thì quản lý là quá trình thực hiện việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, phân phối nguồn lực, chỉ đạo, điều hành và kiểm soát, đánh giá. nhằm vận hành tổ chức một cách hiệu quả nhất để đảm bảo đạt được mục tiêu. Các chức năng của quản lý: - Chức năng kế hoạch hóa là quá trình xác định tầm nhìn, mục tiêu của tổ chức, thiết lập chiến lược tổng thể để đạt được các mục tiêu đó và phát triển một hệ thống thứ tự rõ ràng của kế hoạch để gắn kết và đan xen các hoạt động.
- Chức năng tổ chức là quá trình tiếp nhận, phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt nhất mục 10 tiêu đã đề ra. Đây là chức năng tạo ra sức mạnh mới, giúp hiện thực hoá mục tiêu của tổ chức. - Chức năng chỉ đạo là điều hành, điều khiển tác động, huy động và giúp đỡ, động viên những cán bộ, nhân viên dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được giao, hoạt động lãnh đạo là làm việc với con người. - Chức năng kiểm soát/kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
Kiểm soát sẽ thu được hệ thống thông tin phản hồi về kết quả các hoạt động và phản hồi dự báo, quản lý mà không kiểm tra, giám sát sẽ dẫn đến tình trạng quản lý lỏng lẻo, mệnh lệnh, không nắm được thông tin ngược.1 cho thấy, đóng vai trò khởi đầu, định hướng cho toàn bộ hoạt động là chức năng kế hoạch. Tiếp theo tổ chức, giúp hiện thực hoá mục tiêu. Chỉ đạo đóng vai trò phát huy các động lực cho việc thực hiện mục tiêu, góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao của các hoạt động. Cuối cùng là chức năng kiểm soát với ý nghĩa là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những sai phạm và điều chỉnh.
Kế hoạch hóa Kiểm soát / Tổ chức kiểm tra Chỉ đạo Hình 1. Mối quan hệ của các chức năng quản lý 1. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một khoa học quản lý chuyên ngành, người nghiên cứu trên nền tảng của khoa học quản lý nói chung, cũng giống như khái niệm 11 quản lý, khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều tác giả tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường tiểu học xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái chất lượng mới về chất”.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”. Giáo viên Theo Điều 66, Luật Giáo dục quy định: Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ sở giáo dục, trừ cơ sở giáo dục quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 của Luật này [19]. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao đẳng trở lên gọi là giảng viên.