phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên trung học phổ thông Chƣơng 2. Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn Chƣơng 3. Biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ theo chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên ở các trường trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu về năng lực sư phạm được các nhà tâm lý học Xô Viết hết sức quan tâm.Petrovxki, ông coi năng lực là thành tố cấu tạo nên nhân cách, năng lực luôn gắn với những yêu cầu đặt ra của một hoạt động nhất định. Tác giả cho rằng, năng lực sư phạm là tổ hợp xác định các phẩm chất tâm lý của nhân cách, những phẩm chất này là điều kiện để đạt được kết quả cao trong việc dạy học và giáo dục trẻ em. Sự phát triển của năng lực sư phạm gắn liền một cách hữu cơ với việc nắm các kỹ năng, kỹ xảo sư phạm, với tư cách là những cấu thành nhân cách đảm bảo cho hoạt động của người giáo viên đạt kết quả cao của hoạt động sư phạm [36].
Hội thảo Camegie về giáo dục và ảnh hưởng của nhiệm vụ kinh tế đối với hoạt động giảng dạy (1989) tại Hoa Kỳ, đã phát hành một bản yêu cầu mang tính nguyên tắc định hướng nghề nghiệp đầu tiên để các bang vận dụng xây dựng chuẩn nghề nghiệp tên là “What teachers should know and be able to do” (Giáo viên cần phải biết và cần phải làm cái gì). Những yêu cầu này đặt ra sứ mệnh tương lai của giáo viên phổ thông thông qua công việc giảng dạy và giáo dục cần đạt tới; với 5 vấn đề cốt lõi hòa trộn giữa các yếu tố gồm kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin - đặc trưng cho sự bảo đảm giá trị của giáo viên quốc gia. Theo đó, những điều giáo viên cần phải biết bao gồm: Biết tận tâm với học sinh và sự học hành; hiểu biết và làm chủ môn học, có sự liên hệ với các môn khác; có nền tảng tri thức, văn hóa chung để hiểu giới trẻ, biết ứng xử và bắt nhịp với thời đại. Những điều giáo viên cần phải làm bao gồm: Giảng dạy, quản lý, kiểm tra đánh giá việc học của học sinh; khám phá, phân loại khả năng và tôn trọng năng lực cá nhân trong dòng chảy chung của sự phát triển cộng đồng và xã hội; giáo viên phải là thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập [39].
6 Năm 2001, Intasc đã nghiên cứu, phát triển các tiêu chuẩn nghề nghiệp dành cho giáo viên dựa trên văn bản gốc năm 1992, một số điểm khác biệt mới được đặt ra đó là các tiêu chuẩn này không giới hạn dành riêng cho các giáo viên mới, mà đó là các tiêu chuẩn thực hành chuyên nghiệp dành cho nghề nghiệp đối với tất cả giáo viên. Bộ tiêu chuẩn gồm 10 tiêu chuẩn dạy học cốt lõi cho giáo viên. Đây là một khung khổ được thiết kế để kết nối chuẩn nghề nghiệp của liên bang với chuẩn nghề nghiệp được áp dụng ở các tiểu bang [38]. Bộ Giáo dục của Vương quốc Anh, đã xây dựng chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông (2011) với cấu trúc gồm 3 phần (lĩnh vực) có liên quan lẫn nhau, đó là: (1) Các đặc trưng nghề nghiệp; (2) Kiến thức và sự am hiểu nghề nghiệp; (3) Các kỹ năng nghề nghiệp.
Trong mỗi phần (lĩnh vực) lại có các tiêu chuẩn. Các tiêu chuẩn này chung cho tất cả các loại giáo viên. Và trong mỗi tiêu chuẩn có các yêu cầu. Đối với mỗi loại giáo viên có những yêu cầu khác nhau (cả về số lượng và mức độ).
Đặc biệt, chuẩn nghề nghiệp giáo viên được xác định cụ thể cho từng giai đoạn phát triển nghề của giáo viên: Giáo viên mới vào nghề; Dành cho tất cả giáo viên; Giáo viên trong thang bậc trả lương cao; Giáo viên giỏi; Giáo viên có kỹ năng cấp cao (chuyên gia). Trong đó, các tiêu chuẩn dành cho tất cả giáo viên nói chung được xây dựng với các yêu cầu khá cụ thể và toàn diện: Có mối quan hệ tốt với học sinh, biết giao tiếp và làm việc với người khác; có ý thức tự học để phát triển nghề cá nhân; có kiến thức chuyên môn sâu sắc về các môn học và chương trình giảng dạy, có khả năng thích nghi và lựa chọn được giải pháp phù hợp với môi trường và đối tượng dạy học đa dạng; có sức khỏe; có kỹ năng lập kế hoạch; có nghiệp vụ sư phạm và năng khiếu giảng dạy; có khả năng đánh giá, quản lý và đưa ra phản hồi; có kỹ năng kiểm tra, đánh giá việc dạy và học; có khả năng thiết lập môi trường học tập; có kỹ năng làm việc nhóm và hợp tác [42]. Theo nghị quyết Hội nghị Bộ trưởng Văn hóa Giáo dục của các bang trong Liên bang Đức (Kultusministerkonferenz - KMK) (năm 2004), chuẩn đào tạo giáo viên là những yêu cầu mà mọi giáo viên phải đáp ứng. Trong đó, những nét chính về hình ảnh nghề nghiệp của giáo viên phổ thông là: 7 (1) Giáo viên là những chuyên gia về dạy và học; nhiệm vụ chủ yếu của họ là xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá quá trình dạy và học; (2) Giáo viên phải ý thức được rằng nhiệm vụ của họ gắn bó chặt chẽ với các giờ lên lớp và với cuộc sống nhà trường; (3) Giáo viên thực thi nhiệm vụ đánh giá và tư vấn một cách công bằng có trách nhiệm; muốn vậy họ phải có trình độ cao về sư phạm tâm lý và chẩn đoán; (4) Giáo viên liên tục phát triển các năng lực nghề nghiệp của mình, tận dụng mọi cơ hội để theo kịp các phát triển mới trong hoạt động nghề nghiệp; (5) Giáo viên tham gia xây dựng một nền văn hoá học đường khuyến khích học tập.
Trong Chuẩn đào tạo giáo viên, 10 năng lực nghề nghiệp của giáo viên (áp dụng từ đầu năm học 2005-2006) được thể hiện ở 4 lĩnh vực: Năng lực dạy học; Năng lực giáo dục (nghĩa hẹp); Đánh giá; Đổi mới [40]. Tại Australia, việc phát triển các tiêu chuẩn dành cho nghề nghiệp giáo viên phổ thông nổi lên trong cuối thập niên 1990 thế kỷ 20, đầu thập niên 2000, đi theo sau sự phát triển ở Hoa Kỳ. Ở Australia diễn ra nhiều cuộc thảo luận về việc thiết lập các tiêu chuẩn nghề nghiệp, giống như ở Hoa Kỳ và Anh, thường dựa trên sự kết nối giữa kết quả học tập của học sinh với chất lượng giáo viên, cũng như tầm quan trọng của các tiêu chuẩn và sự đánh giá của giáo viên đối với hình ảnh và địa vị của nghề nghiệp giáo viên. Năm 2013, khung quốc gia về chuẩn nghề nghiệp dạy học của Khối Australia được xây dựng tạo cơ sở cho các bang xây dựng chuẩn nghề nghiệp riêng của mình.
Khung quốc gia có bốn lĩnh vực: (1) Kiến thức nghề nghiệp; (2) Thực hành nghề nghiệp; (3) Giá trị nghề nghiệp; (4) Quan hệ nghề nghiệp; [37] Năm 2005, UNESCO đã nêu rõ vai trò của người giáo viên: Đối với người giáo viên, họ phải đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước và có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáo dục. Vai trò, chức năng của người giáo viên đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học tập của học sinh; Coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập của học sinh và 8 thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò… Song song với sự thay đổi về vai trò, yêu cầu người giáo viên phải biết sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, từ đó đặt ra yêu cầu đối với GV cần được trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng cần thiết; yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các giáo viên với nhau; yêu cầu thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phải tham gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường cũng như giảm bớt và làm thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ đối với học sinh, nhất là đối với học sinh lớn và với cha mẹ học sinh [42]. Trong dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục (Support to the Renovation Management - SREM) - những nghiên cứu về thực hiện đổi mới quản lý giáo dục nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đã được bàn tới. Những tác động tích cực từ dự án trong việc nâng cao năng lực phát triển đội ngũ của hiệu trưởng trong công tác tuyển dụng và sử dụng, đánh giá giám sát cán bộ và thúc đẩy, chỉ đạo phát triển chuyên môn của đội ngũ giáo viên theo hướng phát triển nguồn nhân lực của nhà trường.
Mặt khác, dự án cũng nêu lên quá trình phát triển và cải cách giáo dục của một số nước trên thế giới tập trung vào mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đây là những vấn đề mới cần được vận dụng hết sức linh hoạt trong thực tiễn của giáo dục nước ta hiện nay [6]. Ở Thái Lan, cải cách công tác phát triển giáo viên nói chung (trong đó có giáo viên THPT) rất được quan tâm. Văn phòng cải cách đào tạo giáo viên đã được thành lập từ đào tạo giáo viên đã được thông qua bởi Hội đồng Bộ trưởng [13].
Ở Nhật Bản, ban hành quy chế bắt buộc BD hàng năm đối với GV phổ thông mới vào nghề. GV đương nhiệm được BD bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức đổi mới, đa dạng. Chính sách đãi ngộ GV chủ yếu thể hiện qua lương, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lương dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần [13].
Tại Pháp Giáo dục rất được coi trọng : “Giảng dạy là một nghề đòi hỏi có trình độ chuyên sâu và được đào tạo về nghề nghiệp rất cao”. Việc BDGV ở Pháp được thực hiện theo 3 hướng chính: Coi trọng việc tự nâng cao trình độ nghề nghiệp của GV.