Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường cho đội ngũ hiệu trưởng trường phổ thông có nhiều cấp học. Chương 2: Thực trạng tổ chức bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường của đội ngũ hiệu trưởng trường phổ thông có nhiều cấp học huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Chương 3: Biện pháp tổ chức bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường cho hiệu trưởng trường phổ thông có nhiều cấp học huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHÀ TRƢỜNG CHO HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG PHỔ THÔNG CÓ NHIỀU CẤP HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Các quốc gia và các tổ chức quốc tế đều xác định phát triển chương trình giáo dục là mục tiêu quan trọng của giáo dục và các nhà khoa học không ngừng quan tâm nghiên cứu đưa ra các giải pháp để phát triển chương trình giáo dục: Tài liệu “Curriculum development - A Guide to pratice” của Jon Wiles và Joseph Bondi (được Nguyễn Kim Dung dịch sang Tiếng Việt do Nxb Giáo dục ấn hành năm 2005), được trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá cao vì nó được xem là một trong những sách tham khảo hàng đầu trên thế giới về chương trình học. Tác giả tập trung nghiên cứu về chương trình học trong kỷ nguyên công nghệ cùng xu thế mới của hoạt động xây dựng chương trình học, trong đó các công nghệ dạy học mới đã tác động mạnh mẽ đến nhà trường, thách thức những nhà trường truyền thống. Do đó, các nhà trường phải thay đổi, điều đó cũng có nghĩa là các nhà xây dựng chương trình học, các nhà quản lý giáo dục cũng phải đặt nhà trường trước những thử thách của đổi mới; Vai trò của các triết lý trong các chương trình học: Tác giả đưa ra năm triết lý, bao gồm triết lý vĩnh cửu, triết lý duy tâm, triết lý hiện thực, triết lý thực nghiệm, triết lý hiện sinh.
Các triết lý giáo dục đóng vai trò trung tâm của các hoạt động có mục đích của phát triển chương trình. Các triết lý đóng vai trò như bức màn lọc cho việc đưa ra những quyết định. Tuy nhiên, dù có theo triết lý nào đi nữa, sự nhất quán trong thiết kế là chìa khóa cho mức độ hiệu quả của chương trình học,… 6 “Developing the curriculum” của Peter F. Oliva cũng được Nguyễn Kim Dung dịch sang Tiếng Việt.
Tác giả đã minh họa những cách thức mà những nhà làm chương trình học xúc tiến quá trình phát triển chương trình học, đồng thời đã nêu khá chi tiết những vấn đề liên quan tới việc phát triển chương trình học, lý thuyết về phát triển chương trình, cũng như các thành tố của quá trình giảng dạy [12]. Một số công trình tiêu biểu khác như “Chương trình: Những cơ sở, nguyên tắc và chính sách xây dựng” của Allan C. Ornstein và Francis P. Các tác giả đã đưa ra những cơ sở để xây dựng chương trình cùng hệ thống lý luận về chương trình, các bước phát triển và các chính sách và khuynh hướng phát triển chương trình [1].
Những tài liệu, công trình nghiên cứu về quản lý phát triển chương trình giáo dục điển hình mà tôi tham khảo gồm “Developing the curriculum” của Peter F. Oliva, bên cạnh những nội dung về chương trình, phát triển chương trình giáo dục tác giả cũng đề cập những nét rất khái quát tới công tác quản lý phát triển chương trình giáo dục, như nêu cấp độ hoạch định chương trình học, các bước đánh giá nhu cầu, các quyết định tổ chức và thực hiện chương trình,. Phần lớn các công trình đến từ Ôxtrâylia, chỉ riêng trong Australian Education Index đã có 350 (trong đó có luận án tiến sĩ) bài viết về phát triển chương trình nhà trường. Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu đến từ Hoa kỳ, Canada, Vương quốc Anh, Israel.
Cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 ở New Zealand cũng xuất hiện một số chuyên khảo, báo cáo tổng kết đề tài khoa học, bài báo về phát triển chương trình nhà trường. (Ramsey et al., 1995; Ramsey, Hawk, Harold, Mariot và Posskin.1993) [dẫn theo 28, tr. Ở những nước nói tiếng Anh nêu trên trong những năm 70 - 80 phát triển chương trình nhà trường được xem như đã đạt đỉnh cao nhất của nó. Đến giữa những năm 90 thuật ngữ này gần như biến mất trong các công trình nghiên cứu về giáo dục.
Nguyên nhân thứ nhất có thể là thể là trong giai đoạn này nhiều nước 7 bắt đầu các cuộc cải cách giáo dục một cách mạnh mẽ và rộng lớn. Nguyên nhân thứ hai là do có sự dịch chuyển trong việc sử dụng thuật ngữ để mô tả các nguyên tắc và quá trình phát triển chương trình nhà trường. Ở New Zealand các công trình về phát triển chương trình nhà trường ít hơn, bao gồm một vài chuyên khảo, bài báo, báo cáo tổng kết đề tài khoa học… nhờ có 2 dự án lớn về phát triển chương trình nhà trường cuối những năm 80 đầu những năm 90 (Ramsey và cộng sự 1995. Ramsey, Hawk, Harold, Marriot và Posskit, 1993).
10 năm gần đây số công trình viết về phát triển chương trình nhà trường tăng không đáng kể. Tuy nhiên từ năm 2000 nhiều công trình được thấy ở Hong Kong, Trung quốc, Nhật, Đài Loan. Các công trình này tập trung giải quyết một số vấn đề lí luận liên quan đến phát triển chương trình nhà trường, như định nghĩa chương trình nhà trường, các nguyên tắc, luận cứ, vai trò của nhà nước, nhà trường trong đó có nhấn mạnh vai trò của giáo viên trong phát triển chương trình nhà trường. Nhiều công trình đề cập tới vai trò của cộng đồng, trong đó có vai trò của cha mẹ học sinh, của các bên liên quan (steakholder), các chuyên gia trong phát triển chương trình nhà trường.
Những kinh nghiệm của các nước trên thế giới về phát triển chương trình: Ở Hàn Quốc, trong vòng 42 năm từ 1955 đến 1997 các nhà giáo dục của Hàn Quốc đã nghiên cứu, thay đổi 7 lần chương trình giáo dục quốc gia. Chương trình quốc gia lần thứ 7 được công bố vào ngày 30/12/1997, năm 2007 chương trình GDPT của Hàn Quốc lại đã thay đổi và hiện đang chuẩn bị xây dựng lại chương trình mới (chỉ tập trung ở bậc THPT) gọi là chương trình 2009. Mỗi lần thay đổi chương trình ở mỗi cấp học có một mục tiêu khác nhau như: mục tiêu của bậc THPT nhằm khuyến khích học sinh có những kỹ năng khác nhau cần thiết cho tương lai và với tính cách của một công dân toàn cầu. Chương trình bao gồm chương trình cơ bản chung của quốc gia và chương trình tự chọn ở THPT.
8 Chương trình cơ bản chung của quốc gia bao gồm các môn học, hoạt động tự chọn và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Các hoạt động tự chọn được chia ra các hoạt động tự chọn theo môn học và các hoạt động tự chọn sáng tạo. Môn chung bao gồm: Tiếng Hàn, Giáo dục đạo đức, Nghiên cứu xã hội, Toán, Khoa học, Công nghệ và kinh tế gia đình, Thể dục, Âm nhạc, Nghệ thuật, Ngoại ngữ, Chữ Hàn và Tự chọn.Các môn học chuyên sâu bao gồm các học trình nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp, Công nghiệp, Thương mại, Nghề cá và vận tải biển, Kinh tế gia đình và giáo dục nghề, Khoa học, Thể thao, Nghệ thuật, Ngoại ngữ và Quan hệ quốc tế. Các hoạt động ngoài chương trình bao gồm Hoạt động tự quản, Hoạt động thích ứng, Các hoạt động tự phát triển, Các hoạt động dịch vụ xã hội và Các hoạt động thi đấu (thể thao).
Ở Malaysia Giáo dục phổ thông Malaysia luôn được phát triển, lịch sử phát triển chương trình giáo dục phổ thông ở Malaysia trải qua 07 lần thay đổi, lần thứ 7 vào giai đoạn 2010-2012 là xây dựng và thử nghiệm chương trình phổ thông mới. Chương trình giáo dục phổ thông của Malaysia đặt ra 4 nhóm mục tiêu cơ bản là: Người học phát triển cân bằng về trí tuệ, tinh thần và tình cảm; có trách nhiệm công dân, có hiểu biết và có thể tham gia vào cuộc chơi toàn cầu. Cả 4 nhóm mục tiêu này đều được xây dựng dựa trên cơ sở của các thành tố: Triết lý giáo dục quốc gia, chính sách giáo dục quốc gia, tầm nhìn giáo dục 2020, kế hoạch dài hạn Malaysia lần thứ 3, xu thế giáo dục thế giới, các lý thuyết học tập và 4 trụ cột giáo dục của UNESCO. Chương trình giáo dục trung học được xây dựng theo tinh thần tích hợp dựa trên 7 nguyên tắc: (1) Tiếp nối chương trình tiểu học, (2) Tích hợp các yếu tố trí tuệ, tinh thần, tình cảm và thể chất, (3) Sử dụng ngôn ngữ quốc gia, (4) Học tập suốt đời, (5) Nhấn mạnh các giá trị đạo đức, (6) Sử dụng những lĩnh vực hiểu biết hiện tại, (7) Giáo dục cơ bản cho mọi người.
Giáo dục trung học chia thành 2 bậc: Trung học bậc thấp (năm 1-3), Trung học bậc cao (năm 4-5). 9 Ở Liên bang Nga Nội dung GDPT theo truyền thống được phân chia thành các lĩnh vực Khoa học xã hội- nhân văn và Khoa học tự nhiên-Toán học. Lĩnh vực Khoa học xã hội- nhân văn bao gồm các môn học: Tiếng Nga, Tiếng nước ngoài, Văn học, Nghệ thuật, Lịch sử, Địa lý, Xã hội. Lĩnh vực Khoa học tự nhiên-Toán học bao gồm các môn học: Toán học, Tin học, Vật lý, Hóa học, Sinh học.
Tổ chức dạy học phân ban ở trung học phổ thông: Từ những năm 1970, Liên bang Nga cho thí điểm và từ những năm 1980 đưa vào chương trình giảng dạy các môn học nâng cao tự chọn bắt buộc, các giáo trình tự chọn ngoại khóa chuyên sâu, cơ sở của giáo dục phân hóa. Có các lớp học thí điểm dạy học một số môn chuyên như Toán, Lý, Hóa, Sinh, Ngoại ngữ. Liên Xô trước đây áp dụng hệ thống GDPT 10 năm gồm 3 cấp Tiểu học: 4 năm, THCS: 4 năm, THPT hoàn chỉnh: 2 năm. Chương trình học gồm 3 phần: chuẩn quốc gia + nhà trường lựa chọn + học sinh tự chọn.
Ở Phần Lan Việc đổi mới chương trình GDPT diễn ra theo chu kì khoảng 10 năm. Chương trình quốc gia đầu tiên vào năm 1970 là chặt chẽ và chi tiết, sau nhiều lần đổi mới, cuộc đổi mới tiếp theo gần đây nhất bắt đầu năm 2000, Chương trình mới được ban hành năm 2004 và triển khai bắt buộc vào 2006. Hiện nay Phần Lan cũng đang chuẩn bị cho đổi mới chương trình giáo dục phổ thông trong tương lai (chẳng hạn đã thành lập nhóm để xem xét sự phân bổ thời lượng như thế nào,.