MỞ ĐẦU Hãy kể tên một số truyện dân gian ở Kiên Giang em đã từng được nghe hoặc được đọc. Em ấn tượng với câu chuyện nào nhất? Vì sao? KIẾN THỨC MỚI 1. Khái quát về truyện dân gian Kiên Giang Văn học dân gian Kiên Giang nói chung, truyện dân gian nói riêng là sản phẩm tinh thần, sáng tạo nghệ thuật của quần chúng nhân dân, chủ yếu thuộc các dân tộc Kinh, Hoa và Khmer cùng sống chung trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Là một vùng đất mới được khai phá nên truyện dân gian Kiên Giang chưa có đầy đủ các thể loại, nhưng đã có một số thể loại cơ bản như truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, trong đó, chủ yếu là thể loại truyền thuyết.
15 Truyện dân gian Kiên Giang mang đậm sắc thái riêng của cảnh vật và con người nơi đây. Đó là hình ảnh người dân Kiên Giang với những khát vọng cao đẹp, tình cảm chân chính; cần cù trong lao động và dũng cảm trong chiến đấu. Truyện dân gian Kiên Giang đã tái hiện được quá trình lịch sử đầy khó khăn nhưng cũng rất giàu đẹp của vùng đất phía tây nam của Tổ quốc. Truyện dân gian Kiên Giang thể hiện những sáng tạo nghệ thuật riêng trong ngôn ngữ và nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Đó là ngôn ngữ mang đậm sắc thái địa phương của người dân sống trên vùng đất vừa có đồng bằng, vừa có rừng núi, vừa có biển đảo. Truyện cũng đã tạo dựng thành công hình tượng nhân vật, con người Kiên Giang cương trực, đầy dũng khí, trọng nghĩa khinh tài. Một số truyện dân gian Kiên Giang được kể lại và lưu truyền đến ngày nay như: Sự tích hòn Phụ Tử, Sự tích đồi Ngũ Hổ; Truyền thuyết về Hòn Củ Tron, Mồ Thị Cư, Bà mụ Hai ở Xẻo Tràm đỡ đẻ cho cọp,. – Truyện dân gian Kiên Giang gồm những thể loại nào? – Nêu đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của truyện dân gian Kiên Giang.
TRUYỆN DÂN GIAN KIÊN GIANG NỘI DUNG NGHỆ THUẬT 2. Tìm hiểu truyện dân gian ở Kiên Giang SỰ TÍCH ĐỒI NGŨ HỔ Ngày xưa, Hà Tiên còn khá hoang sơ, nhưng cửa biển Hà Tiên là nơi tránh sóng gió rất tốt nên thuyền buôn từ Trung Hoa và các nước Đông Nam Á qua lại thường ghé vào neo đậu tránh gió, đồng thời để lấy thêm nước ngọt. Vào mùa khô, khi nước biển lấn vào đầm Đông Hồ, nước ngọt từ sông Giang Thành không thể chảy xuống át được nước mặn, người dân địa phương phải dùng nước ao, nước giếng đào. Gần bên Đông Hồ có một ngọn đồi nhỏ và một ao nước 16 ngọt cung cấp nước tại chỗ cho người dân khi đã hết mùa mưa.
Từ đó, có những người chuyên làm nghề gánh nước mướn đổi cho các ghe thuyền qua lại và dân mua bán. Một ngày nọ, có ông lão gánh nước mướn quảy đôi thùng với cây đòn gánh bằng gỗ mun đen bóng đến bên đồi lấy nước. Đang mùa khô nên thú rừng cũng phải tìm nước uống (lúc ấy khu vực này vẫn còn rừng) và chúng cũng hay đến đây uống nước. Khi ông lão đến gần ao nước thì có bốn con cọp vừa đến.
Tiến thoái lưỡng nan, ông lão không thể bỏ về mà không có nước cho người cần dùng, cũng không thể nhường hết cho lũ cọp nguồn nước quý giá này, ông quyết định đi tới ao nước trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nếu lũ cọp định hại ông. Bốn con cọp thấy có người tranh giành nguồn nước thì gầm gừ doạ nạt. Thấy ông lão tiến đến, chúng bèn dàn trận tấn công. Ông lão để cặp thùng xuống, thủ cây đòn gánh trên tay, con cọp đầu tiên vừa nhào đến, ông liền ra đòn rất mạnh và hiểm, đánh con cọp văng ra.
Ông chỉ định doạ cho chúng lui thôi, nhưng bầy cọp hung hãn quyết ăn thua đủ với ông. Biết không thể tránh được, ông bèn dùng những thế võ cực hiểm đánh trả khiến bầy cọp bị thương rất nặng, nhưng chúng vẫn không chịu rút lui. Sau gần một buổi chiến đấu, ông buộc lòng phải hạ dần từng con cho đến khi chúng kiệt sức và chết hết. Ông lão chống cây đòn gánh nhìn xác bốn con cọp, rồi ông cũng trút hơi thở sau cùng vì kiệt sức.
Những người cần nước chờ ông lâu quá nên kéo nhau đến đồi thúc hối. Khi đến nơi, họ mới phát hiện ông lão đã chết giữa bốn con cọp, dáng dấp rất uy nghi. Người ta cất một ngôi miếu nhỏ thờ ông và bốn con cọp. Cũng từ đó, ngọn đồi nhỏ này mang tên là đồi Ngũ Hổ.
Truyền thuyết về đồi Ngũ Hổ gắn liền với thời mở đất Hà Tiên của người xưa, nói lên sự gian khổ, lòng dũng cảm đấu tranh với thiên nhiên giành sự sống. Về Hà Tiên, lên đồi Ngũ Hổ thắp nén nhang tưởng nhớ người xưa cũng là một việc làm ý nghĩa. (Phỏng theo Sự tích đồi Ngũ Hổ, Giá Khê, Báo Văn nghệ, số 432, 2016) 17 – Nêu các chi tiết tưởng tượng và chi tiết có thực trong truyện Sự tích đồi Ngũ Hổ. Những chi tiết đó có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung câu chuyện? STT Chi tiết tưởng tượng Chi tiết có thực – Tìm những chi tiết miêu tả ông lão trong cuộc giao chiến với bốn con hổ dữ.
Qua những chi tiết này, em thấy ông lão là người như thế nào? Nhân vật ông lão STT Các chi tiết Nhận xét của em – Truyện đã phản ánh được hiện thực và ước mơ gì của nhân dân ta trong thời kì hoang sơ trước đây ở vùng đất Hà Tiên? – Truyện Sự tích đồi Ngũ Hổ thuộc thể loại nào? Chi tiết nào trong truyện cho em biết điều đó? LUYỆN TẬP 1. Lập bảng thống kê một số truyện dân gian của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang mà em biết theo mẫu sau: STT Tên truyện Thể loại Dân tộc 2. Thi kể chuyện: Hãy kể một câu chuyện em yêu thích trong kho tàng truyện dân gian ở Kiên Giang. Cho biết ý nghĩa và bài học rút ra từ câu chuyện em kể.
Chia sẻ những việc em nên làm để góp phần bảo tồn truyện dân gian ở Kiên Giang. Tôi sẽ sưu tầm truyện dân gian Kiên Giang. VẬN DỤNG Thực hành làm thẻ truyện dân gian theo gợi ý sau: Bước 1: Sưu tầm truyện dân gian. Bước 2: Thực hành làm thẻ.
– Mặt trái của thẻ ghi tên và thể loại của truyện (ví dụ: Truyền thuyết,…). – Mặt phải của thẻ ghi tóm tắt nội dung của truyện (khoảng 2 – 3 câu). Tìm hiểu thêm RẠCH TẮC CẬU Thuở xưa, vùng phà Tắc Cậu (thuộc xã Bình An, huyện Châu Thành ngày nay) còn rất hoang vu. Cây cối, lau lách um tùm.
Hầu như chưa có xóm làng, đi hàng giờ mới gặp một nóc nhà. Cảnh tượng rất heo hút. Rừng đầy hùm beo, sông lúc nhúc những cá sấu. 19 Trong vùng có một gia đình mới đến trú ngụ.
Gia đình chỉ có một mẹ một con. Người mẹ đã già, còn con là một thanh niên độ hai mươi tuổi. Hai mẹ con dựng một túp lều cạnh con rạch, phá rừng làm rẫy. Một hôm đi tỉa bắp trên rẫy, trời nắng gắt, bà khát nước quá, bèn xuống rạch lấy nón múc nước uống.
Chẳng may, con cá sấu nổi tiếng hung dữ trong rạch đánh hơi có người, nó liền xô tới, quật đuôi làm bà ngã xuống nước. Bà chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi mất hút. Người con nghe tiếng, chạy ra thì chỉ còn kịp nhìn thấy cái nón của mẹ và một vệt máu nổi trên mặt nước. Anh than khóc một hồi rồi bỏ nhà ra đi tìm thầy học võ, quyết chí trả thù cho mẹ.
Một năm trôi qua, khi học võ thành công, anh trở về chốn cũ làm lễ giỗ mẹ, khấn cầu hồn mẹ giúp anh diệt trừ sấu độc. Theo kinh nghiệm nhân dân, biết sấu rất kị gỗ mun, anh sắm một cây mun to bằng cánh tay, chuốt một đầu vừa nhọn vừa có ngạnh làm thành một cái lao rất lợi hại. Ngày ngày, anh bơi xuồng ngược xuôi trên rạch, vừa thả câu vừa tìm con sấu. Một hôm, anh bắt gặp nó trồi lên mặt nước.
Nó toan quật đuôi nhấn chìm xuồng và chụp lấy người anh. Anh bình tĩnh, lẹ làng lách cho mũi xuồng hướng thẳng vào đầu cá sấu. Sấu há miệng định chồm lên đớp chân anh, anh lập tức phóng cây lao vào miệng nó thấu tận ruột gan. Anh bỏ xuồng nhảy xuống nước bơi đứng.
Rồi một tay cặp chặt cán lao bằng mun, tay kia anh vung gươm chém vào cổ nó. Hai bên giằng co một hồi lâu. Sấu bị gỗ mun tác động, cơ thể rã rời, đuối sức, chết. Thế là anh đã trả thù được cho mẹ.
Từ đó về sau, một mình anh lần lượt diệt hết cá sấu trong vùng, không còn nghe có người bị nạn cá sấu nữa. Một hôm, từ sông lớn, một đàn cá sấu kéo nhau vào rạch. Theo lệ thường, anh bơi xuồng thả câu. Bỗng một con cá sấu xuất hiện, anh cứ theo miếng võ cũ, nhử cho con quái há miệng đớp, phóng lao vào rồi vung gươm chém.
Không ngờ, sấu đông cả bầy, chúng xô tới quật xuồng và lao vào đớp chân anh. Anh bị thương nhưng tay gươm vẫn lợi hại, anh hạ luôn mấy con nữa. Cuối cùng, do mất máu nhiều quá, đuối sức, anh chìm dần và mất tích. Dân trong vùng hay tin, thương xót vô cùng, bèn lập miếu thờ.
Từ đó, người ta truyền nhau câu chuyện người trai anh dũng, người con có hiếu, người anh hùng diệt sấu và người ta gọi rạch này là Rạch Tắc Cậu. Lê Trí Viễn, Tài liệu hướng dẫn học tập thơ văn Kiên Giang trong nhà trường PTTH, 1990) 20 BÀI 3. VÙNG ĐẤT KIÊN GIANG TỪ THẾ KỈ I ĐẾN THẾ KỈ X Học xong bài này, em sẽ: ¾ Nêu được một số dấu tích lịch sử ở vùng đất Kiên Giang từ thế kỉ I đến thế kỉ X. ¾ Mô tả được những nét chính về đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của cư dân Kiên Giang trong giai đoạn từ thế kỉ I đến thế kỉ X.
¾ Trình bày được một số thành tựu văn hoá của cư dân Kiên Giang trong giai đoạn từ thế kỉ I đến thế kỉ X. ¾ Có ý thức tìm hiều về truyền thống văn hoá của quê hương Kiên Giang. MỞ ĐẦU Kiên Giang là vùng đất ven biển thuộc miền Tây Nam Bộ. Trong những thế kỉ đầu Công nguyên, vùng đất Kiên Giang là một bộ phận của vương quốc cổ Phù Nam với nền văn hoá Óc Eo nổi tiếng.