lOMoARcPSD|16911414 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI Trường Đại học Y Dược TÀI LIỆU TÓM TẮT môn Giải phẫu đại cương Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên: Nguyễn Lâm Vũ Ths. Nguyễn Thái Hà Dương Mã sinh viên: 21100159 Lớp: Y khoa C Mã lớp học phần: SMP2054 6 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 21100159 Nhà Y1, số 2 đường Phạm Văn Đồng, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thủ đô Hà Nội Mục lục NHẬP MÔN GIẢI PHẪU HỌC. ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ XƯƠNG – KHỚP. Đại cương vềề hệ xương.
ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ CƠ, CƠ VÀ MẠC CỦA ĐẦU. CƠ – MẠC Ở CỔ VÀ THÂN. THÀNH NGỰC – BỤNG VÀ ỐNG BẸN. CƠ CỦA CÁC VÙNG NÁCH VÀ CÁNH TAY.
CƠ VÀ MẠC CHI TRÊN: CƠ CỦA CÁC VÙNG CẲNG TAY VÀ BÀN TAY. CƠ – MẠC CỦA CHI DƯỚI: CƠ CỦA CÁC VÙNG MÔNG VÀ ĐÙI. CƠ VÀ MẠC CỦA CHI DƯỚI: CƠ CỦA CÁC VÙNG CẲNG CHÂN VÀ BÀN CHÂN. ĐỘNG MẠCH DƯỚI ĐÒN VÀ.49 CÁC ĐỘNG MẠCH CẢNH.
TĨNH MẠCH VÀ THẦN KINH ĐẦU – CỔ. MẠCH MÁU CỦA CÁC CHI. THẦN KINH CHI TRÊN. THẦN KINH CHI DƯỚI.
MẮT VÀ THẦN KINH THỊ GIÁC. THÂN NÃO VÀ TIỂU NÃO. CÁC THẦN KINH SỌ.86 | 1 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 21100159 2 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 21100159 NHẬP MÔN GIẢI PHẪU HỌC. Giới thiệu môn Giải phẫu học Người.
Giải phẫu học nghiên Người (human anatomy) là ngành khoa học nghiên cứu cấu trúc cơ thể con người. Phân môn: - Giải phẫu Đại thể (gross anatomy/macroscopic anatomy). - Giải phẫu Vi thể (microscopic anatomy). Môn này manh nha từ thời Ai Cập cổ đại.
Các phương tiện và phương pháp mô tả giải phẫu. Ba cách tiếp cận chính: - Giải phẫu hệ thống (systemic anatomy) là cách mô tả mà ở đó cấu trúc từng hệ cơ quan (thực hiện một hoặc một số chức năng nào đó) được trình bày riêng biệt. - Giải phẫu vùng (regional anatomy) hay giải phẫu định khu (topographical anatomy) là nghiên cứu và mô tả giải phẫu của tất cả các cấu trúc thuộc các hệ cơ quan khác nhau trong một vùng, đặc biệt là những liên quan của chúng với nhau. - Giải phẫu bề mặt (surface anatomy) là mô tả hình dạng bề mặt cơ thể người, đặc biệt là những liên quan của bề mặt với những cấu trúc sâu hơn như các xương và các cơ.
Giúp người học hình dung ra cấu trúc nằm dưới da. Giải phẫu phát triển (developmental anatomy) là nghiên cứu và mô tả sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể. Giải phẫu lâm sàng (clinical anatomy) nhấn mạnh đến sự ứng dụng thực tế của các kiến thức giải phẫu đối với việc giải quyết các vấn đề lâm sàng. Giải phẫu chức năng (functional anatomy) là sự kết hợp giữa mô tả cấu trúc và mô ta chức năng.
Vị trí của môn Giải phẫu học trong Y học. Trong Y học, Giải phẫu học đóng vai trò là một môn học cơ sở. 3 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 21100159 Kiến thức Giải phẫu học người là nền tảng, giúp ta hiểu được hoạt động của cơ thể người (sinh lý hoá/physiology). Thuật ngữ Giải phẫu và thuật ngữ Y học.
Bản danh pháp được thống nhất là Thuật ngữ Giải phẫu Quốc tế tiếng Anh được Hiệp hội các nhà Giải phẫu Quốc tế chấp thuận năm 1998. Tư thế Giải phẫu. Một người ở tư thế Giải phẫu là một người đứng thẳng với: đầu, mắt và các ngón chân hướng ra trước, các gót chân và các ngón chân áp sát nhau, hai tay buông thõng hai bên với các gan bàn tay ngửa. Mặt phẳng Giải phẫu.
Đứng dọc giữa hoặc mặt phẳng giữa là mặt phẳng thẳng đứng đi dọc qua trung tâm cơ thể, chia thành nửa trái và nửa phải. Các mặt phẳng đứng dọc song song với mặt phẳng giữa. Các mặt phẳng đứng ngang là những mặt phẳng thẳng đứng đi qua cơ thể vuông góc với mặt phẳng giữa và đứng ngang (coronal/frontal plane). Các mặt phẳng nằm ngang (horizontal plane) là các mặt phằng nằm ngang đi qua cơ thể vuông góc với mặt phẳng giữa và mặt phẳng đứng ngang.
Các từ chỉ mối quan hệ vị trí và so sánh. Trên (superior/cranial/cephalic) là nằm gần phía đầu hơn. Dưới (inferior) là nằm gần phía chân hơn. Trước (anterior) hay bụng (ventral) là nằm gần phía mặt trước.
Sau (posterior) hay lưng (dorsal) gần phía mặt sau hơn. Bên là nằm xa mặt phẳng giữa hơn, còn ngược lại là giữa (dịch là trong và ngoài, khác nông với sau, bên trong và bên ngoài). Gần nghĩa là gần thân hoặc điểm nguyên uỷ hơn, xa là ngược lại. Nông (superficial) là nằm gần bền mặt hơn là sâu (deep) là nằm xa bề mặt hơn.
4 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 21100159 Bên trong (internal) là gần trung tâm của một cơ quan hay khoang sống hơn. Bên ngoài (external) thì ngược lại. ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ XƯƠNG – KHỚP. Đại cương về hệ xương.
Xương là những cơ quan được cấu tạo chủ yếu bằng mô xương – mô liên kết rắn. Chức năng: - Nâng đỡ cơ thể. - Bảo vệ và làm chỗ dựa cho các cơ quan. - Nơi sản sinh ra các tế bào máu.
- Kho dự trữ chất khoáng và chất béo. Số lượng và phân chia. 206 xương trong bộ xương người: - Bộ xương trục (axial skeleton): 22 xương sọ, một xương móng, 6 xương tai, 51 xương đầu. - Bộ xương treo/xương chi (appendicular skeleton) gồm 64 xương chi trên và 62 xương chi dưới.
Cấu tạo chung. Màng ngoài xương (periosteum) hay ngoại cốt mạc là một màng mô liên kết đai giàu mạch máu bọc quanh bề mặt xương (trừ nơi có sụn khớp). Xương đặc (compact bone) đóng vai trò chính bảo vệ, nâng đỡ và kháng lại lực đẩy của lực nén ép. Xương xốp (spongy bone) do nhiều bè xương bắt chéo nhau chằng chịt tạo nên một mạng lưới vây quanh các khoang nhỏ, chứa tuỷ đỏ sản xuất tế bào máu.
Ổ tuỷ (medullary cavity) là khoang rỗng bên trong thân xương dài chứa tuỷ vàng (yellow bone marrow), chứa nhiều tế bào mỡ. Đặc điểm cấu tạo trong. 5 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 21100159 Xương dài là xương có lớp xương đặc dày ở giữa và mỏng dần về phía hai đầu, xương xốp thì ngược lại. Hai đầu xương (epiphysis), lớp xương đặc chỉ còn là một lớp mỏng, bên trong là khối xương xốp chứa tuỷ đỏ.
Xương ngắn có cấu tạo giống như đầu xương dài. Xương dẹt gồm hai bản xương đặc kép ở giữa là một lớp xương xốp. Hình thể ngoài. Xương dài, xương ngắn, xương dẹt, xương k đều, xương có hốc khí (pneumatised bone), xương vừng (sesamoid bone).
Các mạch máu của xương. Động mạch nuôi xương. Động mạch màng xương. Sự hình thành và phát triển của xương.
Quá trình hình thành xương gọi là sự cốt hoá: - Cốt hoá nội màng: tạo xương dẹt của sọ và xương hàm dưới. - Cốt hoá nội sụn: sự thay thế của sụn bằng xương và hầu hết các xương trong cơ thể được hình thành theo cách này: i. Hình thành mô hình sụn. Mô hình sụn tăng trưởng.
Hình thành trung tâm cốt hoá nguyên phát. Hình thành trung tâm cốt hoá thứ phát. Sự hình thành sụn khớp và sụn đầu xương. Đại cương về hệ khớp.
Khớp (joint) là nơi liên kết giữa hai hoặc nhiều xương. Theo cấu tạo: khớp sụn, khớp sợi và khớp hoạt dịch. Theo chức năng: khớp bất động (synarthrosis), khớp bán động (amphiarthrosis) và khớp động (diarthrosis). 6 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 21100159 BÀI 2.
ĐẠI CƯƠNG VỀ HỆ CƠ, CƠ VÀ MẠC CỦA ĐẦU 1. Đại cương về hệ cơ. Trong bài này, hệ cơ là hệ thống các cơ và nhóm cơ xương tạo nên những cử động qua các khớp. Đại cương về mô cơ.
Mô cơ xương là mô cơ vận động theo ý muốn và không theo ý muốn. Mô cơ trơn có mặt ở thành của các cấu trúc rỗng, như các mạch máu, đường dẫn khí và hầu hết các cơ quan trong ổ bụng, nang lông ở da. Tế bào cơ trơn hình thoi, một nhân ở trung tâm và không có vân ngang. Cơ trơn do thần kinh tự chủ chi phối.
Sợi cơ tim có vân ngang như sợi cơ vân nhưng sợi có nhánh nối tạo thành một phiến cơ. Các loại cơ xương và cách sắp xếp bó sợi. Theo hình dạng và cách sắp xếp bó sợi: hình thoi, dẹt, thẳng, tam giác, vuông, lông vũ (đơn, kép và đa) và cơ vòng. Theo số nguyên uỷ: cơ nhị đầu, cơ tam đầu, cơ tứ đầu.
Theo chức năng: cơ ngữa, cơ sấp cổ tay,. Cấu trúc cơ xương. Bụng cơ (belly) nằm giữa các đầu bám (attachment) bằng gân. Gân là mô liên kết.
Gân dài, rộng gọi là cân. Xương có những đặc điểm mà khi cơ xương bám vào phân biệt hai đầu bám. - Đầu cố định (fixed end). 7 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.com) lOMoARcPSD|16911414 21100159 - Đầu di động (mobile end).
Đầu cố định thường được gọi là đầu nguyên uỷ, đầu di động là bám tận. Sự phối hợp của các cơ và nhóm cơ. Một động tác bất kỳ là kết quả của sự hoạt động phối hợp của nhiều cơ. Hầu hết cơ xương xếp thành cặp đối kháng.
Trong cặp đối kháng, mô cơ chủ vận (prime mover/agonist) co để gây nên cử động mong muốn trong khi cơ còn lại, cơ đối kháng (antagoinst) giãn ra và tuân theo những tác động của cơ chủ vận. Hai cơ nằm phía đối ngược nhau và chúng hoán đổi vai trò với nhau. Một số cơ, gọi là cơ cố định (fixators) co đồng thời với cơ chủ vận để giữa nguyên uỷ của cơ chủ vận giúp cơ chủ vận hoạt động hiệu quả. Khi cơ chủ vận đi ngang qua một số khớp trước khi vượt qua một khớp mà tại đó động tác mong muốn của nó diễn ra.
Để ngăn cản những cử động không mong muốn ở một khớp trung gian, gọi là cơ hiệp đồng (synergists) sẽ co và cố định khớp trung gian đó. Cơ và mạc của đầu. Các cơ đầu: cơ mặt, cơ nhai, cơ ngoài nhãn cầu, cơ tiểu cột tai, cơ lưỡi, cơ khẩu cái mềm, cơ họng. Bài này chỉ trình bày cơ mặt và cơ nhai.
Cơ mặt nằm giữa những lớp của mạc nông, một đầu bám vào mạc hoặc xương của sọ, một đầu bám vào da. Về chi phối thần kinh, cơ mặt do thần kinh mặt vận động. Cơ Nguyên uỷ Bám tận Động tác Cơ quanh tai Cơ tai trước Mạc trên sọ Phía trước gờ luân Cơ kém (auricularis anterior) phát triển Cơ tai trên (auricularis Mạc trên sọ Phần trên mặt sau loa superior) tai Cơ tai sau (auricularis Mỏm chũm Lồi xoăn tai posterior) 8 Downloaded by Nguynhavy Ha Vy (Ntkphuong205@gmail.