chương 1 Chi thường xuyên mang tính chất là các khoản chi cho tiêu dùng xã hội và gắn liền với chức năng quản lý xã hội của nhà nước. Tuy các khoản chi này không trực tiếp sản xuất vật chất nhưng hết sức cần thiết nhằm duy trì bộ máy quản lý Nhà nước các cấp, đảm bảo ổn định chính trị xã hội và an ninh quốc phòng. Trong đó, các khoản chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo có tính chất tạo tích lũy đặc biệt, có thể không có hoặc có tác động nhỏ đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn nhưng lại có tác động tích cực, quyết định đến tăng trưởng kinh tế trong tương lai, các khoản chi sự nghiệp khác chứa đựng nhiều yếu tố xã hội liên quan đến nhiều chính sách khác nhau trong nền kinh tế, là một yếu tố khách quan và thể hiện tính ưu việt của một xã hội. Hàng năm, ngân sách nhà nước chi một số lượng khá lớn các nguồn tài chính cho lĩnh vực không sản xuất, lượng chi này được phân thành hai bộ phận cơ bản: một bộ phận vốn được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu của dân cư trong lĩnh vực phát triển văn hóa xã hội, nó có mối quan hệ trực tiếp với thu nhập của dân cư và làm nâng cao mức sống của dân cư và một bộ phận xác định cho các nhu cầu quản lý kinh tế xã hội chung của nhà nước.
Bằng các khoản chi thường xuyên, nhà nước thể hiện sự quan tâm của mình đối với nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế xã hội đồng thời bằng chính các khoản chi này nhà nước thực hiện chức năng văn hóa, giáo dục, quản lý, an ninh quốc phòng. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHI THƯỜNG XUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG 2. Khái quát điều kiện tự nhiên, dân số và tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương: Bình Dương là tỉnh thuộc vùng miền Đông Nam Bộ, nằm về phía Bắc của thành phố Hồ Chí Minh, là một trong 7 tỉnh của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Bình Dương được tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1997, có diện tích tự nhiên là 2.695,22 km2, dân số đến trung bình năm 2009 là 1.117 người, mật độ dân số trung bình 555 người/ km2.
Với địa hình tương đối bằng phẳng, nềm địa chất ổn định, phổ biến là những dãy phù sa cổ bồi đắp, nối tiếp nhau với độ dốc từ 3 – 150. Mặc dù Bình Dương được bao bọc bởi hai con sông lớn là sông Sài Gòn ở phía Tây và sông Đồng Nai ở phía Đông nhưng do địa hình có độ cao trung bình từ 6m – 60m nên đất đai ở Bình Dương ít bị lũ lụt và ngập úng ngoại trừ một vài vùng trũng dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai. Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lơi cho việc xây dựng hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp và sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên trong những năm gần đây, sự hình thành các khu đô thị, các khu công nghiệp, cụm sản xuất cùng với quá trình khai thác khoáng sản với quy mô lớn đã làm biến đổi bề mặt địa hình khu vực, làm mất đi những đường nét tự nhiên, gây tác động tiêu cực như thúc đẩy quá trình rửa trôi bề mặt và xâm thực bào mòn các bề mặt sườn.
Bình Dương có 6 loại nhóm đất chính gồm đất phèn, đất phù sa, đất xám, đất đỏ vàng, đất dốc tụ, đất xói mòn trơ sỏi đá và sông hồ. Trong đó, đất xám chiếm hơn 50%, đất đỏ vàng chiếm 24% diện tích đất tự nhiên. Đây là hai loại đất rất thích hợp với các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả Bình Dương có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng, nhất là khoáng sản phi kim loại có nguồn gốc magma, trầm tích và phong hóa đặc thù. Đây là nguồn cung cấp nguyên liệu cho những ngành công nghiệp truyền thống và thế mạnh của tỉnh như gốm sứ, vật liệu xây dựng, khai khoáng.
Theo thống kê, tốc độ gia tăng dân số qua các năm có xu hướng giảm theo thời gian, từ 1,14% vào năm 2005, 1,08 % vào năm 2006 và 1,056 xuống 1,011% và 1,004% từ năm 2007 đến năm 2009. Mật độ dân số tăng từ 410 người/km2 vào năm 2008, đến năm 2009 tăng lên 555 người/km 2. Tình hình dân số của tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000-2010 được thống kê trong Bảng 2.1 như sau: Bảng 2.1 : Dân số trung bình tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000-2010. Đơn vị tính: Người Phân theo thành thị, nông Phân theo giới tính Năm Tổng số thôn Nam Nữ Thành thị Nông thôn 2000 779.022 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2009, 2010.
Có thể thấy dân số tỉnh Bình Dương tăng liên tục và tương đối nhanh, nhất là từ 2005 trở lại đây và gia tăng chủ yếu là tăng cơ học. Sự gia tăng dân số cơ học của Bình Dương là do di dân tự do và di chuyển lực lượng lao động. Là một tỉnh trong vùng trọng điểm phía Nam, tỉnh Bình Dương luôn tạo ra sức hấp dẫn thu hút đầu tư và ngày càng thu hút thêm lực lượng lao động từ các địa phương khác chuyển đến (bình quân mỗi năm có trên 20. Bên cạnh những mặt tích cực thì việc di dân tự do và sự di chuyển của lực lượng lao động theo mùa vụ đã phần nào gây khó khăn cho việc đảm bảo những dịch vụ xã hội cơ bản, làm gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên và gia tăng các tệ nạn xã hội.
* Tăng trưởng kinh tế: Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, giai đoạn 1986 -1990 tăng trưởng kinh tế bình quân là 4,55%/năm. Song giai đoạn 1991 - 1996 bình quân tăng lên 8,6%/năm, đến giai đoạn 1997- 2010 bình quân tăng 15,49 %/năm.1: Tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh Bình Dương từ 1997 – 2010. 20% 17,7 18% 15,8 15,4 15,0 15,5 14,9 16% 14% 15,5 15,5 15,0 14,4 13,0 12% 12,4 10,3 10% 11,0 8% 6% 4% 2% 0% 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Nguồn: Tổng hợp từ niên giám thống kê tỉnh Bình Dương năm 2009, 2010. Quá trình tăng trưởng GDP qua các năm ta thấy từ khi thành lập tỉnh 1997 đến nay GDP đã tăng từ 2.884,2 tỷ đồng năm 1997 lên 16.074,1 tỷ đồng năm 2010 và tăng đều qua các năm, tốc độ tăng trưởng GDP của Bình Dương ổn định qua các năm khoảng 15,49 % mỗi năm, cũng chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế nói chung nên tốc độ tăng đã giảm xuống 10.3% trong năm 2009 và dự kiến năm 2010 sẽ phục hồi ở tốc độ 13%.
Nếu so sánh tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Bình Dương và khu tứ giác kinh tế phía Nam và cả nước thì có thể thấy tốc độ tăng trưởng của Bình Dương khá cao. Dưới đây là biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng GDP của Bình Dương : Biểu đồ 2.2: So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bình Dương. 20 18 16 14 12 10 8 6 4 2 - 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 BÌNH DƯƠNG TỨ GIÁC VIỆT NAM Nguồn số liệu: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê năm 2009, 2010 của tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh. * Giai đoạn 2001- 2005: Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng trưởng bình quân 15,5%, cao nhất năm 2002 tăng 15,8% và thấp nhất năm 2001 là 14,4%.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục chuyển dịch mạnh theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Đến cuối năm 2005, cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng trong GDP là 63,5%-28%- 8,5%, bình quân thu nhập đầu người đạt 15 triệu đồng/năm. * Giai đoạn 2005- 2010: Giai đoạn này, tỉnh đã triển khai thực hiện các mục tiêu kinh tế- văn hóa, xã hội trong bối cảnh thuận lợi, khó khăn đan xen lẫn nhau. Do tình hình khung hoảng kinh tế thế giới tác động bất lợi giai đoạn này tỉnh đã gặp không ít khó khăn trên một số lĩnh vực.
Song với sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, Chính phủ và sự quyết tâm cao của các cấp ủy Đảng, chính quyền và mọi tầng lớp nhân dân, sự chủ động và sáng tạo của cộng đồng các doanh nghiệp trên địa bàn nên tỉnh đã vượt qua những khó khăn, thách thức và đạt được những thành quả nhất định. Tổng sản phẩm trong tỉnh tăng trưởng bình quân 13,6%, cao nhất năm 2003, 2005 tăng 15,5% và thấp nhất năm 2009 là 10,3%. Đến cuối năm 2010, cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng trong GDP là 63%-32,6%-4,4% bình quân thu nhập đầu người đạt 27,4 triệu đồng/năm gấp 1,8 lần năm 2005. Thực trạng chi thường xuyên của tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997 – 2010 2.
Chi thường xuyên trong tổng thu ngân sách: Biểu đồ 2.2: Thu ngân sách, chi thường xuyên giai đoạn 2007-2010. THU NGÂN SÁC H - C HI THƯỜ NG XUYÊN GIAI ĐO ẠN 1997-2010 25.000 0 ngân sách Chi t hường xuyên Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám Thống kê năm 2009, 2010 của tỉnh Bình Dương. Tốc độ tăng thu ngân sách từ 1997 – 2010 của tỉnh Bình Dương trung bình 25,3%/năm tương đương với tốc độ tăng chi ngân sách (25,27%). Tuy nhiên tốc độ tăng chi thường xuyên ngân sách tỉnh trung bình chỉ 22,009%/năm.
Chi thường xuyên trong giai đoạn này chiếm bình quân 1/4 (25,44%) tổng thu ngân sách và có xu hướng giảm dần, để dành một phần tích lũy ngày càng cao cho chi đầu tư phát triển. Nếu như năm 1997, chi thường xuyên chiếm 36,26% thì đến năm 2010 chỉ còn 16,93% trên tổng thu ngân sách.2 Chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách: Tổng chi ngân sách trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1997-2010 đạt 30.552 triệu đồng chiếm 13,53 %/ GDP của tỉnh, trong đó chi thường xuyên đóng góp 7,46% của GDP tỉnh. Chi thường xuyên đạt từ năm 1997-2010 đạt 16.492 triệu đồng, bình quân đạt 57,71% trong tổng chi ngân sách nhà nước và chi đầu tư bình quân đạt 13.960 triệu đồng đạt 42,29 % trên tổng chi ngân sách nhà nước. Như vậy trong giai đoạn này, chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn chi đầu tư trong tổng chi ngân sách nhà nước.
Trong đó chi thường xuyên năm 1997 chiếm tỷ lệ cao nhất 72, 88% do ngân sách phải đảm bảo các khoản chi để phục vụ cho việc chia tách tỉnh Sông Bé thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước.