MỞ ĐẦU Các bệnh lý do oxy hóa đang có xu hướng gia tăng trong xã hội phát triển. Trong số đó, rối loạn chuyển hóa lipid máu, nguyên nhân của các bệnh xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, viêm tụy, gan nhiễm mỡ, … có tỷ lệ ngày càng cao [43], [90]. Hiện nay, việc điều trị rối loạn lipid máu chủ yếu sử dụng những nhóm thuốc hóa dược như statin, fibrat, ezetimib hay thuốc ức chế PCSK9. Tuy nhiên, những nhóm thuốc này có nhược điểm là có thể gây ra tổn thương gan, viêm gan, viêm cơ hoặc những tác dụng có hại trên đường tiêu hóa; rất ít các thuốc điều trị rối loạn lipid sử dụng được trên bệnh nhân bị tổn thương chức năng gan [28], [79].
Vì vậy, việc tìm kiếm các liệu pháp, thuốc mới có hiệu quả và an toàn trong điều trị rối loạn chuyển hóa lipid, đồng thời có tác dụng bảo vệ gan đang là một vấn đề cấp thiết. Trong nguồn nguyên liệu từ thiên nhiên vô cùng phong phú của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có rất nhiều cây thuốc, vị thuốc có khả năng làm giảm lipid máu đã được chứng minh qua các nghiên cứu và thực tế sử dụng [6]. Đặc biệt, trong số đó có Bụp giấm (Hibiscus sabdarifa L., Malvaceae), một loài cây nhiệt đới có khả năng thích nghi với nhiều loại đất khác nhau và đã được trồng thành công ở Bình Thuận, Việt Nam với quy mô rộng và đạt tiêu chuẩn VietGAP (Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt). Bụp giấm chứa anthocyanin có tác dụng chống oxy hóa rất tốt, ngoài ra còn có alkaloid, chất đường, chất khoáng, acid hữu cơ,.
Bộ phận thường sử dụng nhất là đài hoa do có chứa anthocyanin với hàm lượng có thể lên tới 1,5 g/kg đài hoa khô, với delphinidin và cyanidin là hai anthocyanin chính chiếm khoảng 71% và 29% [34]. Cho đến nay, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến Bụp giấm như: Tác dụng giảm lipid máu của các polyphenol thông qua sự ức chế quá trình tạo mỡ và thúc đẩy sự thanh thải lipid ở gan, giảm độc tính của acetaminophen trên gan, hạ huyết áp,. Bên cạnh đó, theo các nghiên cứu tiền đề, bột sấy phun từ đài hoa 2 Bụp giấm có tác dụng trên chuột nhắt gây rối loạn lipid máu nội sinh và ngoại sinh, có tác dụng bảo vệ gan trên mô hình chuột nhắt gây tổn thương tế bào gan bằng ethanol hoặc acetaminophen. Tuy nhiên, tác dụng này không tỷ lệ thuận với liều sử dụng, do đó, cần phải có những nghiên cứu nhằm xác định liều cũng như đánh giá độc tính của đài hoa Bụp giấm khi sử dụng thời gian dài nhằm đưa ra những khuyến cáo (nếu có) khi sử dụng trên lâm sàng [9], [10], [11].
Ngoài ra, bột sấy phun từ đài hoa Bụp giấm có nhược điểm là khá bất tiện khi sử dụng vì có vị chua, dễ hút ẩm, khó bảo quản. Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng đề ra mục tiêu nghiên cứu bào chế một dạng chế phẩm thuận tiện để sử dụng xuất phát từ nguồn nguyên liệu bột sấy phun đài hoa của cây Bụp giấm. Việc nghiên cứu phát triển một chế phẩm từ bột sấy phun đài hoa của cây Bụp giấm mang đến triển vọng cao trong điều trị bệnh lý rối loạn lipid máu và các bệnh lý liên quan mà không làm tổn thương chức năng gan. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Mục tiêu chung: Nghiên cứu tác dụng điều hòa lipid máu của chế phẩm từ đài hoa của cây Bụp giấm (Hibiscus sabdariffa L.
Mục tiêu cụ thể: 1. Xác định liều có tác dụng điều hòa lipid máu của bột sấy phun từ đài hoa của cây Bụp giấm (Hibiscus sabdariffa L. Xây dựng quy trình bào chế và tiêu chuẩn cơ sở, đánh giá độ ổn định của cốm Bụp giấm. Khảo sát tác dụng của cốm Bụp giấm trên một số gen điều hòa chuyển hóa lipid: LDLR, SREBP-2, HMGCoA Reductase, AMPK.
Đánh giá tác dụng điều hòa rối loạn lipid máu và tác dụng dự phòng gan nhiễm mỡ của cốm Bụp giấm trên chuột nhắt trắng. Đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của cốm Bụp giấm trên chuột nhắt trắng. Rối loạn lipid máu 1. Đặc điểm dịch tễ và nguyên nhân Theo thống kê, ước tính có khoảng 92,1 triệu người trưởng thành ở Mỹ mắc ít nhất một bệnh lý về tim mạch – CVD (Cardiovascular diseases).
Dự đoán đến năm 2030, sẽ có 43,9% dân số trưởng thành ở Mỹ mắc bệnh tim mạch. Trên toàn thế giới, 80% trường hợp tử vong do bệnh lý tim mạch diễn ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, tỷ lệ này gần như bằng nhau ở nam và nữ [26]. Đối với các cá nhân có nguy cơ bệnh lý tim mạch từ trung bình đến cao hoặc những bệnh nhân đang bị các bệnh lý về tim mạch, ngoài việc kiểm soát lối sống (chế độ ăn, hoạt động thể lực, hút thuốc lá), cần làm giảm các yếu tố nguy cơ như tình trạng rối loạn lipid máu, tăng huyết áp [28]. Theo số liệu của NHANES (Khảo Sát Nghiên Cứu về Sức Khỏe và Dinh Dưỡng Quốc Gia Hoa Kỳ) từ 2007 đến 2010, tỷ lệ mắc bệnh rối loạn lipid máu ở người trưởng thành có béo phì là 49,7%, thừa cân là 44,2% và cân nặng bình thường là 28,6%, tỷ lệ mắc chung của rối loạn lipid ở thanh thiếu niên từ 12 đến 19 tuổi là 20,3%.
Khoảng 17% người lớn có HDL thấp trong giai đoạn 2011-2012. Ngoài ra, khoảng 24,2% người trưởng thành có mức triglycerid cao (≥ 150 mg/dL) theo báo cáo của NHANES 2011 đến 2014 [26]. Rối loạn lipid máu có thể được định nghĩa như sự tăng bất thường cholesterol toàn phần và LDL và/hoặc triglycerid trong máu và/hoặc sự giảm HDL. Rối loạn lipid máu có thể do di truyền (nguyên phát) hoặc do hậu quả của những bệnh khác (đái tháo đường, suy giáp, …), do chế độ ăn, do thuốc (thứ phát).
Tăng lipid máu là do tăng nồng độ lipoprotein huyết tương. Một hoặc nhiều nhóm lipoprotein có thể tích lũy trong máu do tăng sản xuất, tăng bài tiết vào tuần hoàn hoặc giảm độ thanh thải, giảm loại bỏ lipoprotein khỏi lưu thông. Trong một số trường hợp, cả hai quá trình cùng tồn tại [67]. Chuyển hóa lipid Lipid là các phân tử kỵ nước không hòa tan hoặc hòa tan rất ít trong nước.
Lipid trong cơ thể được phân bố trong 2 khu vực lớn là trong tế bào và trong huyết tương. Lipid trong huyết tương không lưu thông dưới dạng tự do, muốn chuyên chở, chúng phải kết hợp với các thành phần khác và được chuyên chở dưới hình thức các tiểu phân lipoprotein [1], [67]. Lipoprotein là các phức hợp đại phân tử được tạo thành từ hàng trăm phân tử lipid và protein. Chúng có hình cầu, phần lõi gồm triglycerid và cholesteryl ester, bao quanh là một lớp đơn gồm các phospholipid, một ít cholesterol tự do và các phân tử protein (apoprotein).
Chính các phân tử protein này đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa chuyên chở lipid và chuyển hóa lipoprotein. Lipoprotein được chia làm 5 lớp tùy vào tỷ trọng là: (1) Chylomicron, (2) VLDL: Very Low Density Lipoprotein, (3) IDL: Intermediate Density Lipoprotein, (4) LDL: Low Density Lipoprotein, (5) HDL: High Density Lipoprotein [1]. Triglycerid trong thức ăn được men lipase tụy thủy phân thành acid béo và monoglycerid. Tại niêm mạc ruột non, các chất này được hấp thu trong các thể micelle.
Trong tế bào niêm mạc ruột, tại bộ máy Golgi, triglycerid được tái tạo và cùng cholesteryl ester hình thành phần lõi của chylomicron. Sau đó, phospholipid, cholesterol tự do, apo B48, apo AI, apo AII, apo AIV tạo lớp phủ bề mặt thành tiểu phân chylomicron. Chylomicron đi vào mạch bạch huyết và vận chuyển vào hệ tuần hoàn. Trong huyết tương, HDL chuyển apo C, apo E cho chylomicron.
Khi chylomicron gắn với LPL, apo CII trên bề mặt chylomicron hoạt hóa LPL, LPL hoạt hóa sẽ thủy phân triglycerid thành acid béo và monotriglycerid. Acid béo được vận chuyển vào tế bào mỡ, tế bào cơ để dự trữ dưới dạng triglycerid hoặc sử dụng làm nguồn năng lượng. Cơ chế dự trữ triglycerid ở tế bào mỡ này rất quan trọng vì tế bào mỡ không có khả năng tân tạo mỡ từ glucid như ở gan. Một số ít cholesterol ester từ HDL đến chylomicron nhờ men CETP.
Chylomicron mất dần triglycerid trở thành 5 chylomicron tàn dư. Nhờ có apo E trên bề mặt, các tàn dư này được thụ thể tàn dư (LDL receptor related protein: LRP) ở gan bắt giữ. Tế bào gan dị hóa chylomicron tàn dư thành triglycerid dự trữ, cholesteryl ester, còn apo B48 được phân cách thành acid amin. Như vậy, triglycerid trong thức ăn đã được đưa đến mô mỡ và cơ dưới dạng acid béo, còn cholesterol được đưa đến gan để tạo acid mật [1], [67], [91].
Triglycerid và cholesterol (do gan sản xuất hoặc gan đã lấy từ chylomicron tàn dư) được bao bọc bởi phospholipid, cholesterol tự do và apo B100 để tạo thành VLDL. Ở người bình thường, kích thước VLDL phụ thuộc vào lượng triglycerid ở tế bào gan. Khác với chylomicron, phần lớn cholesterol trong lõi của VLDL là cholesterol tự do. Vì tốc độ sản xuất ra B100 tương đối ít thay đổi nên số lượng VLDL lưu hành trong máu cũng ít thay đổi, do đó, khi ăn nhiều mỡ hoặc gan sản xuất nhiều triglycerid thì chỉ có kích thước VLDL thay đổi mà thôi [1].
Sau khi VLDL vào máu, nó được HDL chuyển giao một số apo E và apo C. Khi VLDL gắn với LPL, apo CII trên bề mặt của VLDL hoạt hóa LPL, sau đó LPL thủy phân triglycerid của VLDL thành glycerol và acid béo. VLDL trở thành IDL (VLDL tàn dư). Một phần nhỏ IDL bị gan bắt giữ bởi LDLR (nhờ apo B100 và apoE) hoặc thụ thể tàn dư (nhờ apoE).
Phần lớn IDL bị lấy bớt triglycerid và apoprotein trở thành LDL. Thường thì những IDL có nguồn gốc từ VLDL lớn đều bị gan bắt giữ chứ không chuyển thành LDL. Chỉ có những IDL bắt nguồn từ VLDL kích thước nhỏ mới chuyển hóa tiếp thành LDL nhờ apo E và HTGL [1], [67]. LDL chỉ có một apoprotein duy nhất đó là apo B100, do đó, LDL chủ yếu được thanh lọc qua con đường LDL receptor (khoảng 75% LDL).
LDL receptor là một glycoprotein có trọng lượng phân tử khoảng 160 kDa, có trên bề mặt của hầu hết các tế bào trong cơ thể. Số lượng LDL receptor ở tế bào gan nhiều nhất trong cơ thể (2/3 số lượng LDL được thanh lọc ở gan) và số lượng này tùy thuộc vào số lượng LDL lưu hành trong máu, nếu LDL cao thì số lượng 6 receptor tăng và ngược lại, đây chính là cơ chế điều hòa sự ổn định của cholesterol [1], [67], [91].