Chương I: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu - Chương II: Ước lượng tác động của FDI đến năng suất lao động ngành chế biến thực phẩm tại Việt Nam - Chương III: Kết luận và hàm ý chính sách CHUONG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN NGHIÊN CUU 1.1 Cơ sở ly luận 1.1 Khái niệm nang suất lao động ¬ Tuy có nhiêu cách tiêp cận khác nhau nhưng có thê hiéu chung rang năng suât lao động là một thước đo phản ánh khả năng, năng lực lao động, sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của người lao động. Cụ thể hơn, nó thê hiện được hiệu suất làm việc cụ thé của người lao động trong quá trình lao động sản xuất qua lượng sản pham hoặc giá trị tạo ra được trong một don vi thời gian. Trong lịch sử, đã có nhiều mốc đánh dấu những thành tựu nồi bat của con người trong van đề cải thiện năng suất lao động, ví dụ như thông qua việc cải tiễn công cụ lao động, đổi mới phương thức sản xuất hay chuyên môn hóa lao động.
Với bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, đồng nghĩa với sự cạnh tranh cũng tăng theo, việc cải thiện, thúc đây năng suất lao động đang được coi là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của mọi lĩnh vực. Đó cũng là vấn đề cốt lõi trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Bởi lẽ, dé tạo sức bật thoát khỏi bay thu nhập trung bình, hướng nền kinh tế đi theo quỹ đạo phát trién bền vững và rút ngắn khoảng cách với các quốc gia trong khu vực thì yếu tố con người, cụ thê là năng suất lao động, luôn phải đặt lên hàng đầu.2 Các phương pháp đo lường năng suất lao động Theo cách hiéu chung, năng suat lao động phản ánh hiệu suât làm việc của người lao động trong quá trình sản xuất. Phương pháp phổ biến nhất dé đo lường năng suất lao động, theo hướng dẫn về đo lường năng suất của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), là dựa trên giá trị gia tăng.
Cụ thể, đề tính được năng suất lao động tổng, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) sử dụng số liệu phù hợp được khai thác từ Bộ chỉ số Phát triển Thế giới (WDI) của Ngân hàng Thế giới (WB) dé tính lại chỉ tiêu GDP theo sức mua tương đương (PPP) và áp dung Mô hình Kinh tế lượng về Xu hướng của ILO dé tính tông số việc làm. Phương pháp đo lường chỉ số này dựa trên giá trị gia tăng đem lại sự quan sát đáng tin cậy về mức độ phát triển của một nên kinh tế. Đặc biệt khi cần tiến hành mồ xẻ phân tích các thị trường lao động, chỉ số này thường được ưa dùng hơn chỉ số về GDP bình quân đầu người. Đó là bởi dé tính GDP đầu người, các đối tượng không thuộc lực lượng lao 4 động bao gồm trẻ em và người hưởng lương hưu cũng được tính gdp vào nên có thé không phản được ánh chính xác tính chất của thị trường lao động.
Ngoài ra, năng suất lao động cũng là một chỉ tiêu không thé thiếu dé làm cơ sở xác định mức lương của người lao động. Theo một báo cáo được hợp tác thực hiện bởi ILO với ADB về Cộng đồng ASEAN năm 2015, năng suất lao động giữa các quốc gia trong khu vực có mối quan hệ thuận chiều với mức lương của người lao động. Ở Việt Nam, năng suất lao động xã hội là một chỉ tiêu quan trọng, thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (được quy định trong Luật thống kê). Chỉ tiêu này được tính bằng GDP bình quân trên một lao động có việc làm với thời gian quan sát là một năm, vốn phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ở góc độ vĩ mô, năng suất lao động cũng góp phần phản ánh năng lực sản xuất của một quốc gia. Báo cáo của ILO/ADB cho thấy lao động các ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ thường làm việc năng suất hơn các ngành nghề nông nghiệp truyền thống nhiều lần. Điều này có thể lý giải vì sao năng suất lao động của ba nước là Việt Nam, Lào và Cambodia lại thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực ASEAN khi đa số lực lượng lao động tại các quốc gia này làm việc trong ngành nông nghiệp. Và tất nhiên một nước chủ yếu dựa vào các ngành dịch vụ, tài chính và bảo hiểm như Singapore đang sở hữu mức năng suất lao động cao nhất trong khu vực.
Ngoài ra, những quốc gia có nhiều lao động làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức (do tính chat bap bênh và nhiều hạn chế trong việc cải thiện điều kiện làm việc) có thể có mức năng suất lao động thấp hơn các nước khác.3 Các yếu 16 anh huong toi năng suất lao động ; ; Trong phân lớn các ngành nghê san xuat, kinh doanh trong nên kinh tê, con người luôn đóng vai trò trung tâm chỉ phối mọi hoạt động lao động, sản xuất. Bởi vậy, năng suất lao động cũng được biết đến như một yếu tố trung tâm chịu tác động từ nhiều nhân tố khác nhau. Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất sẽ ít nhiều tác động tới năng suất lao động. Thứ nhất, có thé ké đến các yếu t6 gắn liền với sự phát triển và phương thức sử dụng các tư liệu sản xuất.
Các yếu tố này bao gồm: khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất, năng lượng, các nguyên vật liệu và cơ sở hạ tang. Trong các yếu tố ké trên, thứ quan trọng nhất góp phần đáng kể trong việc cải thiện năng suất lao động chính là khoa học kỹ thuật. Khoa học kỹ thuật phát triển ngày càng hiện đại sẽ dẫn đến sự cải biến, đổi mới công nghệ sản xuất, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Đó là bởi vì sự phát triển của lực lượng sản xuất xuất phát từ sự cải tiễn các công cụ sản xuất, từ lao động thủ công lên sản xuất theo dây chuyền máy móc có sử dụng các trang thiết bị tiên tiến.
Thêm nữa, phát triển cơ sở hạ tang theo hướng hiện đại cũng mang ý nghĩa to lớn với phát triển sản xuất nói chung và tăng năng suất lao động nói riêng. Hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đáp ứng được nhu cầu sản xuất đồng nghĩa với sự phát triển của các ngành năng lượng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc. Các ngành này vốn được biết đến với vai trò gan liền với tiên độ phát triên chung của một nên kinh tê. Thứ hai, ban thân người lao động với các yếu tổ đặc trưng riêng biệt cũng là yếu tố chính dé cải thiện năng suất lao động.
Năng suất lao động của mỗi quốc gia, mỗi ngành nghề và doanh nghiệp cụ thé đều phụ thuộc phan lớn vào đội ngũ lao động, cụ thê là trình độ, kiến thức chuyên môn, văn hóa, kỹ năng và năng lực của họ. Trong đó trình độ chuyên môn và văn hóa là các nhân tố có ảnh hưởng lớn hon cả. Các nhân tố này ảnh hưởng lớn tỚI VIỆC tiếp thu và vận dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doannh. Quá trình tiếp nhận và áp dụng các tiễn bộ mới diễn ra nhanh hay chậm, hiệu quả hay không là phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của lực lượng lao động.
Vốn hiểu biết, kiến thức chuyên môn càng chuyên sâu, kết hợp với kỹ năng càng thành thạo bao nhiêu thì sẽ rút ngăn được thời gian lao động bấy nhiêu, từ đó sẽ nâng cao được năng suất lao động. Ngoài các yếu tố về trí lực, các yêu tố khác thuộc thé lực hay tâm lực như tình trạng thé chat, thai độ khi làm việc hay tinh thần trách nhiệm với công việc cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu suât làm việc của người lao động. Thứ ba, không thê không ké đến vai trò quản lý của các tổ chức lao động, các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Cụ thé, các yếu tố như trình độ hay khả năng tổ chức của mỗi doanh nghiệp, đoàn thé sẽ tác động tới hiệu quả lao động thông qua phân công lao động, các chế độ phúc lợi, tổ chức và giám sát các hoạt động.
Như đã đề cập ở trên, chuyên môn hóa, hay thực chất là quá trình phân công lao động, là quá trình tách biệt các chức năng riêng biệt và tô chức lại các quá trình lao động độc lập, gắn với từng cá thé phù hợp. Yếu tô này cũng góp phần không nhỏ trong việc cải thiện năng suất lao động. Một nhân tố khác cũng ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động, đó chính là tiền lương. Các khoản lương thưởng, thù lao có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống, mức sống của người lao động, từ đó ảnh hưởng tới khả năng phục hồi sức lao động của họ.
Và bởi vậy, nó có tác động đáng kể tới hiệu suất làm việc và năng suất lao động. Ủng hộ, khuyến khích người lao động nâng cao năng suất thông qua kênh lương thưởng cũng là một giải pháp được nhiều nhà quan lý sử dụng. Ngoài ra, các yếu t6 khác như môi trường làm việc, tô chức không gian làm việc làm sao để tạo sự thoải mái nhất cho người lao động cũng như phù hợp với điều kiện kinh doanh cũng góp phần thúc đây năng suất lao động. Được làm việc trong một môi trường thân thiện, có điều kiện tốt sẽ giúp người lao động luôn thoải mái về tâm lý, từ đó có thê tiên hành công việc với hiệu quả cao hơn.
Thứ tư, môi trường tự nhiên như thời tiết và khí hậu cũng có thể ảnh hưởng tới năng suất lao động. Không giống các nhân tổ kể trên, nó tác động tới năng suất lao động theo hướng khách quan và khó có thể phủ nhận. Căn cứ vào điều kiện thời tiết, khí hậu có những đặc điểm riêng biệt nên mỗi khu vực sẽ có những thuận lợi và thách thức riêng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Cu thé hơn nữa, mỗi một ngành đặc thù riêng lại chịu những tác động khác nhau từ nhân tố tự nhiên.
Ví dụ, độ màu mỡ của đất canh tác trong ngành nông nghiệp hay trữ lượng sẵn có của các loại mỏ khoáng sản sẽ có những tác động khác nhau tới năng suất lao động.