CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SINH KẾ CỦA NGƯƠI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐÔ THỊ MỚI 1. Sinh kế và các nguồn lực của sinh kế 1. Khái niệm sinh kế Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và hoạt động cần thiết để kiếm sống (Chambers và R. Sinh kế có thể được tạo thành thu nhập từ nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Tùy thuộc vào nguồn lực hiện có hoặc tiềm năng của mỗi gia đình để lực chọn các hoạt động tạo thu nhập phù hợp. Các lực chọn này được dựa trên nguồn lực của hộ gia đình và vị trí của nó trong cấu trúc pháp lý, chính trị và xã hội của xã hội. Nguy cơ sinh kế đuợc xác định mức độ tổn thương của một gia đình về thu nhập, thực phẩm, sức khỏe và dinh dưỡng. Vì vậy, đời sống được đảm bảo khi các hộ gia đình có cuộc sống an toàn hoặc tiếp cận nguồn lực và các hoạt động tạo thu nhập, bao gồm cả dự trữ và tài sản, để bù đắp rủi ro, giảm bớt chấn động và đảm bảo dự phòng (Chambers và R.
Theo khái niệm sinh kế của DFID, “Sinh kế là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”. Theo khái niệm sinh kế nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ. Các nguồn lực sinh kế Nguồn lực sinh kế: Khả năng tiếp cận của con người đối với các nguồn lực sinh kế được coi là yếu tố trọng tâm trong tiếp cận sinh kế. Nguồn lực sinh kế bao gồm: Vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính.
Vốn con người Vốn con người là tài sản của mỗi quốc gia, quyết định tới tính bền vững sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Vốn con người trong khung sinh kế được xem như một tài sản sinh kế và là phương tiện để đạt những kết quả sinh kế. Từ thế kỷ XVIII, Adam Smith đã đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu khái niệm vốn con người dựa trên sự nhìn nhận giáo dục. Theo ông, vốn con người là những năng lực hữu ích mà cư dân hoặc các thành viên của một xã hội có được.
Những năng lực này có được chủ yếu là nhờ việc cá nhân đầu tư vào học tập và tiếp thu được những kiến thức từ quá trình giáo dục - đào tạo, những năng lực đó không chỉ mang lại những cơ hội tốt cho chính cá nhân đó mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống của cộng đồng mà cá nhân đó là một thành viên. Nghiên cứu của OECD (2001), vốn con người là kiến thức, kỹ năng, năng lực và các đặc tính thuộc về cá nhân có thể tạo điều kiện cho việc ra các phúc lợi thuộc về cá nhân, xã hội và kinh tế. Theo định nghĩa này, vốn con người nằm trong một quá trình biến đổi không ngừng từ lúc cá nhân sinh ra đến khi mất đi. Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, vốn con người có 3 nhân tố chính là năng lực bẩm sinh, năng lực chuyên môn và kiến thức được trang bị thông qua đào tạo chính quy và kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn được tích lũy trong quá trình lao động và làm việc.
Cũng có thể chia vốn con người làm hai phần là kỹ năng cứng và kỹ năng mềm. Trong đó, kỹ năng cứng là những kiến thức chuyên môn mà con người thu được thông qua đào tạo, có thể đánh giá thông qua kết quả học tập. Kỹ năng mềm là những khả năng và kinh nghiệm mà con người thu được thông qua tích lũy kinh nghiệm.2 Vốn xã hội Vốn xã hội bao gồm mạng lưới nối kết, mối quan hệ thành viên và mối quan hệ lòng tin mà các cá nhân dựa vào đó để sử dụng tốt nhất các nguồn lực của cá nhân (Coleman, 1990) hoặc theo đuổi sinh kế bền vững (Ellis, 1999). 7 Theo quan điểm của Trần Hữu Quang (2006) vốn xã hội là một hiện thực đặc trưng của những mối dây liên kết giữa con người với nhau trong một cộng đồng hay một xã hội.
Vốn xã hội như là một sản phẩm của những cấu trúc và các tiến trình. Vốn xã hội mang lại cơ hội tốt cho chất lượng cuộc sống trong một số trường hợp, vốn xã hội tự nó có thể tăng hơn là bị suy giảm do việc sử dụng hợp lý. Ngược lại, sự thờ ơ có thể làm xói mòn vốn xã hội và lòng tin. Ngoài lĩnh vực kinh tế, vốn xã hội còn có ý nghĩa lớn trong việc hình thành vốn con người (Coleman, 1998).
Coleman đã phân tích mối quan hệ giữa ba loại vốn: vốn kinh tế, vốn xã hội và vốn con người và đi đến kết luận rằng vốn kinh tế và vốn xã hội đều có ý nghĩa tích cực trong việc hình thành vốn con người. Ông cho rằng “vốn xã hội trong gia đình và cộng đồng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành vốn con người cho thế hệ tiếp theo”. Putman (2000), cho rằng vốn xã hội biểu thị cam kết công dân và là công cụ để hướng tới sự thịnh vượng. Vốn xã hội tăng cường các chuẩn mực phổ biến, làm đơn giản hóa sự hợp tác, mang đến sự hỗ trợ lẫn nhau, sự hợp tác và lòng tin.
Từ đó, giúp nâng cao học vấn, cải thiện điều kiện chăm sóc trẻ em, mang lại an toàn cho cộng đồng và tạo ra hạnh phúc về mặt vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh mặt tích cực, vốn xã hội cũng có những tác động tiêu cực. Fukuyama (2002), chỉ ra tính hai mặt của vốn xã hội. Vốn xã hội trong các quan hệ họ hàng tạo ra sự trợ giúp hiệu quả cho doanh nghiệp hoặc cho các cá nhân trong những thời điểm mà điều kiện kinh tế khó khăn.
Tuy nhiên, điều này cũng mang lại những hệ quả tiêu cực như sự thiếu tin tưởng đối với người xa lạ, từ đó gây ra những khó khăn cho các doanh nghiệp. Putman còn cho rằng, vốn xã hội có thể tạo ra bè phái, tham nhũng và tâm lý coi tộc người của mình là trung tâm. Vốn xã hội được phát triển từ: quan hệ tin cậy như họ hàng; thành viên của hội, tổ chức; quan hệ tương tác như bạn bè, đồng nghiệp. Vốn tự nhiên Vốn tự nhiên là tập hợp các tài sản của hệ sinh thái, kết hợp với các các nguồn vốn khác (vốn xã hội, vốn con người) tạo ra các dịch vụ thiết yếu cho phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ phúc lợi của con người (Costanza và Daly, 1992).
Vốn tự nhiên bao gồm sinh vật (động vật và thực vật) và các cấu phần vật chất của tự nhiên, như nước và khoáng sản. Các dịch vụ hệ sinh thái (HST) từ các tài sản của hệ sinh thái tạo ra các lợi ích (Costanza et al. 1997; Millennium Ecosystem Assessment, 2005), như lương thực, nước, các lợi ích giải trí và văn hóa, điều tiết khí hậu, điều tiết chất lượng không khí và kiểm soát dịch bệnh). Để đảm bảo các dịch vụ này tiếp tục hỗ trợ phúc lợi và cuộc sống con người, các tài sản nguồn vốn tự nhiên này cần được bảo tồn.
Nguồn vốn tự nhiên luôn là nền tảng để con người xây dựng nền kinh tế, xã hội và sự thịnh vượng. Hàng hóa và dịch vụ được cung cấp từ nguồn vốn tự nhiên có giá trị quan trọng cho đời sống và sự phát triển của con người. Tuy nhiên, nguồn vốn này thường được xem xét là tài sản miễn phí và được định giá kinh tế không phù hợp, dẫn đến việc quản lý không bền vững. Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập phục vụ cho các mục tiêu sinh kế của họ.
Vốn tự nhiên thể hiện quy mô và chất lượng đất đai, quy mô và chất lượng nguồn nước, quy mô và các loại tài nguyên khoáng sản, quy mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí. Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế như đất, nước, khoáng sản và thủy sản hay những yếu tố tự nhiên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người. Các nghiên cứu khác nhau đã chứng minh tầm quan trọng của vốn tự nhiên nhằm đảm bảo năng lượng, lương thực và an ninh nước và giảm đói nghèo (TEEB, 2011). Hầu hết các hộ gia đình ở nông thôn phụ thuộc vào việc tiếp cận đất đai, nước và rừng cho hoạt động nông nghiệp, đánh bắt, sản xuất năng lượng sinh học và thu nhặt các sản phẩm ngoài gỗ.
Vốn tự nhiên bao gồm sinh vật (động vật và thực vật) và các cấu phần vật chất của tự nhiên (như nước và khoáng sản), kết hợp với các các nguồn vốn khác (vốn xã hội, vốn con người) tạo ra các dịch vụ thiết yếu cho phát triển kinh tế - xã hội, là nền tảng của phát triển kinh tế xã hội để đạt được tăng 9 trưởng bền vững và toàn diện. Vốn tự nhiên hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế chủ chốt (nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, du lịch, v. Đồng thời, vốn tự nhiên là nền tảng của năng lượng, lương thực và an ninh nước. Vốn tài chính Vốn tài chính bao gồm các nguồn lực tài chính được người ta sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế của họ.
Vốn tài chính bao gồm dự trữ có sẵn và dòng tiền mặt chảy vào thường xuyên và khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng từ bên ngoài như từ người thân hay các tổ chức tín dụng khác Nguồn vốn tài chính là tài sản linh hoạt nhất trong năm loại tài sản sinh kế bởi vì nó có thể được chuyển đổi sang các loại tài sản sinh kế khác phụ thuộc vào thay đổi cấu trúc và tiến trình; nó có thể được sử dụng để đạt được thành tựu trực tiếp của kết quả sinh kế; nó có thể chuyển sự ảnh hưởng chính trị để hình thành các chính sách và quản trị sự tiếp cận nguồn lực.