chương 1, tác giả đã trình bày tính cấp thiết của đề tài. Các nội dung như mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng được tác giả làm rõ. Cụ thể, đối tượng nghiên cứu là KNSL của các doanh nghiệp ngành dệt may, với phạm vi nghiên cứu là 34 doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2015-2023. Ngoài ra, một số nội dung quan trọng khác như phương pháp nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của luận văn được thể hiện ở chương này.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trong chương này tác giả tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm và các chỉ tiêu đánh giá KNSL của doanh nghiệp dệt may. Đồng thời tìm hiểu các lý thuyết liên quan mật thiết đến đề tài nghiên cứu và khảo lược các nghiên cứu có liên quan. Từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến KNSL của doanh nghiệp dệt may và tìm ra khoảng trống trong các nghiên cứu trước để làm cơ sở xây dựng mô hình cho nghiên cứu của tác giả. KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP DỆT MAY 2.
Khái niệm về khả năng sinh lời Khả năng sinh lời (Profitability) đã được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa và bổ sung thêm trong quá trình nghiên cứu. Theo Harward & Upton (1961), khả năng sinh lời là mức lợi nhuận thu được trên số vốn đầu tư vào công ty. Theo Cojocaru (2000), khả năng sinh lời là khả năng doanh nghiệp thu được lợi nhuận từ các hoạt động kinh tế bằng cách sử dụng các nguồn lực của mình và là cơ sở cho mọi quyết định của công ty về quản lý hoạt động trong nội bộ và mối quan hệ với các đối tác kinh doanh, do đó nó được xem là một tiêu chí thiết yếu để đánh giá hiệu quả kinh tế của một doanh nghiệp. (2015) khả năng sinh lời đó là khả năng của công ty để tạo ra thu nhập tương đối so với doanh thu, tài sản và vốn chủ sở hữu.
Có thể thấy, khả năng sinh lời không chỉ là mức lợi nhuận đạt được trên số vốn đầu tư (tài sản, nguồn vốn) mà còn là khả năng lợi nhuận đạt được trên doanh thu bán hàng. (2016) khả năng sinh lời được định nghĩa là khả năng để một khoản đầu tư nhất định có thể kiếm được lợi nhuận từ việc sử dụng nó. Thuật ngữ “khả năng sinh lời” bao gồm hai từ “lợi nhuận” và “khả năng”. Lợi nhuận là số tiền có được bằng cách lấy doanh thu bán hàng thu về trừ tổng chi phí bỏ ra.
Thuật ngữ “khả năng” phản ánh khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp. Khả năng này còn được gọi là khả năng kiếm tiền, khả năng thu nhập hoặc hiệu quả hoạt 9 động của khoản đầu tư liên quan. Mục tiêu tổng thể của một doanh nghiệp là kiếm lợi nhuận thỏa đáng từ số tiền đầu tư vào nó phù hợp với việc duy trì tình hình tài chính lành mạnh. Lợi nhuận thỏa đáng phụ thuộc vào một số yếu tố bao gồm bản chất của rủi ro kinh doanh, cơ hội, v.v… Nếu doanh nghiệp không kiếm được lợi nhuận, vốn đầu tư sẽ bị xói mòn và nếu tình trạng này kéo dài thì doanh nghiệp cuối cùng có thể không còn tồn tại.
Theo Nur (2018), khả năng sinh lời có thể được tính toán thông qua lợi nhuận của một doanh nghiệp. Lợi nhuận là mục tiêu vô cùng quan trọng, nếu doanh nghiệp không có lợi nhuận sẽ khó có thể tồn tại lâu dài. Muốn gia tăng khả năng sinh lời, các doanh nghiệp cần có chiến lược, chích sách quản lý hiệu quả tổng nợ và tổng tài sản, theo đó, doanh nghiệp cần giữ một tỷ lệ nợ phù hợp, đảm bảo năng lực trả nợ cho nhà cung cấp, đồng thời hạn chế các chi phí không thực sự cần thiết, tăng cường các biện pháp đẩy mạnh doanh thu. Như vậy khả năng sinh lời chính là các tiềm lực, nguồn lực hiện có và trong tương lai để có thể mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Khả năng sinh lời theo tác giả hiểu là khả năng doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận cao nhất với một mức chi phí tối ưu và tận dụng được các nguồn lực mà doanh nghiệp đang có. Đặc điểm khả năng sinh lời của doanh nghiệp dệt may Dệt may là ngành cung cấp sản phẩm thiết yếu nên thị trường tiêu dùng là rất lớn. Chu kỳ sản xuất và sản phẩm thay đổi theo thời tiết và tùy thuộc vào thị hiếu của người tiêu dùng hay phong tục tập quán ăn mặc. Là ngành thâm dụng nhiều lao động, đòi hỏi tay nghề và sự khéo léo, sử dụng nhiều lao động nữ.
Dệt may là ngành công nghiệp nhẹ, công nghệ bán tự động. Trong sản xuất, dệt may thị trường đầu vào chính là nguyên liệu bông, xơ, sợi hay vải, còn thị trường đầu ra thì rất đa dạng. Kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập càng cao thì con người càng chú trọng đến các sản phẩm phục vụ tiêu dùng, trong đó có quần áo. Ngành dệt may là ngành có sự cạnh tranh gay gắt, quyết liệt từ các nước trong khu vực, như Bangladesh, Ấn Độ Pakistan và các nước Đông Nam Á như Thái Lan và Indonesia.
Ngành dệt may là một ngành nhạy cảm, chịu ảnh hưởng từ tình hình 10 thị trường thế giới, chuỗi cung ứng và các hiệp định thương mại tự do. Ví dụ, trong năm 2022, cuộc chiến tranh giữa Nga và Ukraina kéo dài, đã ảnh hưởng đến giá dầu, chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy làm cho giá nguyên liệu, nhiên liệu luôn biến động và ở mức cao, sức tiêu thụ hàng hoá giảm kéo theo doanh thu thương mại giảm, các đơn hàng bị đình trệ, nguồn cung cấp bất ổn, v.v… ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả hoạt động và các chỉ số KNSL của các doanh nghiệp dệt may. Doanh nghiệp dệt may phải đối diện với nhiều vấn đề trong quá trình sản xuất kinh doanh như: rủi ro về thị trường, giá cả, rủi ro về nguyên vật liệu, rủi ro về lao động, rủi ro về tỷ giá, rủi ro về cơ chế chính sách luật pháp (thuế, hải quan), rủi ro lỗi thời, rủi ro về dịch bệnh, v.v… Tóm lại, vì ngành dệt may là một ngành tốn nhiều chi phí đầu tư, nguồn vốn, nguồn lao động và thời gian để thu hồi vốn và có lời có thể rất lâu, có thể cần từ 5 năm đến 10 năm; vì vậy lợi nhuận hay KNSL trong những năm đầu có thể bị âm, không có lời hoặc lời rất ít. KNSL của các doanh nghiệp ngành dệt may sẽ bị tác động ảnh hưởng đáng kể với những biến động về kinh tế vì các sản phẩm dệt may là những hàng hoá sẽ bị hạn chế chi tiêu khi thu nhập của người tiêu dùng giảm, có tính biến động theo mùa vụ và cạnh tranh cao vì vậy các doanh nghiệp phải thích ứng thay đổi kịp thời để duy trì và nâng cao KNSL.
CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP Các chỉ số về KNSL là một loại tỷ số tài chính được sử dụng để đánh giá khả năng tạo ra thu nhập của một doanh nghiệp so với chi phí hoạt động, doanh thu, tài sản hoặc vốn chủ sở hữu của cổ đông theo thời gian, sử dụng dữ liệu từ một thời điểm cụ thể. Các chỉ số về KNSL là thước đo được sử dụng trong phân tích tài chính. Các chỉ tiêu về KNSL phản ánh tình hình hoạt động, sức khoẻ tài chính và hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp, dựa trên chỉ số này nhà quản trị đưa ra các quyết định tài chính và xây dựng chiến lược cho doanh nghiệp. Một số chỉ tiêu thường được các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý sử dụng phổ biến như: ROA, ROE, ROS, ROI, v.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho biết mỗi đồng đầu tư của vốn chủ sở hữu thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập (Ngô Kim Phượng và Lê Hoàng Vinh, 2021). ROE được tính như sau: Lợi nhận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này có vai trò quan trọng để đo lường khả năng sinh lợi từ vốn mà các nhà đầu tư đã bỏ ra và là yếu tố được các nhà đầu tư xem trọng. ROE là chỉ số thể hiện mức độ sử dụng vốn đầu tư hiệu quả của một doanh nghiệp. Chỉ số ROE cao là điều tốt, thu nhập ròng cực kỳ lớn so với vốn chủ sở hữu vì hiệu quả hoạt động của công ty rất mạnh.
Tuy nhiên, ROE cực cao thường là do tài khoản vốn chủ sở hữu nhỏ so với thu nhập ròng, điều này cho thấy rủi ro.Vốn chủ sở hữu quá nhỏ có thể là do công ty đã thua lỗ trong thời gian khá dài. Đồng thời, vốn chủ sở hữu cũng sẽ giảm khi công ty dư nợ quá nhiều, kết quả tính được của chỉ số ROE cũng cao bất thường. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) cho biết mỗi đồng đầu tư vào tài sản thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, cho thấy hiệu quả của việc đầu tư và sử dụng tài sản của doanh nghiệp (Ngô Kim Phượng và Lê Hoàng Vinh, 2021). ROA được tính theo công thức sau: Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản Nếu ROA tăng lên thể hiện doanh nghiệp đang đầu tư tốt cho các tài sản của mình và các tài sản này đang sản sinh ra nhiều lợi nhuận.
Ngược lại, nếu ROA của một công ty giảm theo thời gian, chứng tỏ công ty đã đầu đầu tư nguồn lực không tốt. Đây là một chỉ tiêu quan trọng đối với người cho vay, nếu chỉ tiêu này lớn hơn lãi suất cho vay chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, có khả năng thanh toán được lãi vay. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) cho biết một đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp tạo ra trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, hay nói cách khác chỉ tiêu này cho biết lợi nhuận đang chiếm bao nhiêu phần trăm trên doanh thu (Lê Minh Tú, 2010). ROS được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia doanh thu thuần: Lợi nhuận sau thuế ROS = Doanh thu thuần Chỉ tiêu này nhằm xem xét doanh nghiệp đã và đang thực hiện quản lý kiểm soát chi tiêu trong kỳ có hiệu quả hay không.
Chỉ tiêu ROS cao, chứng tỏ doanh nghiệp đang làm tốt đồng thời cả việc phát triển thị trường, gia tăng doanh thu và tối ưu các khoản chi phí trong doanh nghiệp, sinh lời tốt, hấp dẫn đối với nhà đầu tư.