Phần mở đầu, phần kết luận và phần nội dung. Phần nội dung gồm 3 chương, 7 tiết không kể danh mục tài liệu tham khảo và danh mục chữ viết tắt.nay 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay Chƣơng 1 QUAN NIỆM TRIẾT HỌC VỀ YẾU TỐ TỰ NHIÊN, YẾU TỐ XÃ HỘI VÀ SỨC KHỎE CON NGƢỜI 1. Quan niệm triết học về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con ngƣời 1. Sơ lược một số quan niệm trong lịch sử Các nhà triết học cổ đại trong quá trình đi tìm hiểu bản tính con người đã đề cập đến yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người ở những mức độ khác nhau.
Một số nhà triết học phương Đông cổ đại đã có những nhận thức khá sâu sắc về những yếu tố tự nhiên ngự trị trong mỗi con người qui định bản tính con người, họ đưa ra một hệ thống các qui phạm đạo đức để tu dưỡng mình và nhằm giáo dục cho xã hội. Một số trường phái triết học đã đề cập đến mặt tự nhiên chi phối hành vi con người như là bản năng, theo họ, trong con người luôn diễn ra sự chế ước lẫn nhau một bên là bản năng, một bên là ý thức con người. Các nhà triết học phương Tây cổ đại đã cho rằng bản tính con người là yếu tố tự nhiên tất yếu, là cái giống nhau, cái bẩm sinh trong mỗi con người, còn sự khác nhau giữa con người đó là do môi trường tạo nên. Đã có tác giả đưa ra những tiêu chí để phân biệt giữa con người và con vật, tuy chưa chỉ ra được bản tính tự nhiên và bản chất xã hội ở con người nhưng khi nói về con người, các nhà triết học đều đã đề cập đến một trong hai hoặc cả hai yếu tố đó trong tư tưởng triết học của mình.
Tuy ông không đưa ra khái niệm yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội, vai trò cũng như mối liên hệ giữa chúng, nhưng trong nhận thức của ông về bản tính con người đã có một sự tiến bộ về chất. Trong lĩnh vực y học, Hypôcrát (460-377TCN) cho rằng, con người bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên mình đang sống. Người thầy thuốc cần chú ý đến chế độ ăn uống, cách sinh hoạt, tuổi tác, hoàn cảnh sống của người bệnh, đất đai, nguồn nước, thời tiết địa phương nơi có dịch. Tuy chưa chỉ rõ được sự ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội tới sức khỏe con người và vận dụng (LUAN.nay 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay nó vào trong quá trình điều trị bệnh tật, song ông đã thấy bệnh tật có những nguyên nhân hiện diện ở môi trường xung quanh con người và phát triển theo qui luật tự nhiên [39, tr.
Dưới sự thống trị của tôn giáo và thần quyền, triết học thời Trung cổ đã tuyệt đối hoá yếu tố tinh thần của con người, chính điều này đã kìm hãm con người trong sự khắc kỷ, kìm hãm sự phát triển tự nhiên của con người cả về mặt thể chất và trí tuệ. Do trình độ nhận thức cũng như ý thức tôn giáo mà mặt tự nhiên của con người ít được quan tâm trong thời kỳ này. Vấn đề con người đã được hầu hết các nhà triết học thời kỳ Phục hưng quan tâm nghiên cứu. Vào thời kỳ này, một số ngành khoa học về con người như giải phẫu, sinh lý, sinh lý học thần kinh, sinh hoá… phát triển mạnh mẽ, tạo ra những tiền đề khoa học quan trọng cho triết học nghiên cứu về con người, tuy vậy, cách nhìn con người của họ cũng chỉ mới dừng lại ở góc độ thể xác và tinh thần.
Con người được phân tích, mổ xẻ giống một cái máy đang hoạt động. Mặc dù chưa đưa ra khái niệm về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong con người, song những quan điểm duy vật về “con người tự nhiên” thời kỳ này đã trở thành những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của những quan điểm khoa học về con người sau này. Trong triết học cổ điển Đức vấn đề con người đã được nghiên cứu khá sâu sắc.Hêghen trong quá trình chứng minh “ý niệm tuyệt đối” là thực tại duy nhất và bao trùm tất cả, tuy chưa dùng khái niệm yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội nhưng ông đã lí giải khá sâu sắc mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội. Ông cho rằng, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình hoạt động của chính bản thân chủ thể ấy, hoạt động của con người ngày càng phát triển bao nhiêu thì ý thức càng mang bản chất xã hội bấy nhiêu.
Như vậy, nếu lược bỏ yếu tố thần bí trong triết học G.Hêghen thì tư tưởng nổi bật của ông là: con người hoàn thiện chính là nhờ lao động, song G.Hêghen đã sai lầm ở chỗ biến con người thành tự ý thức và tự ý thức được được coi là phương thức tồn tại duy nhất của con người.Phoiơbắc cũng đã phân biệt con người tự nhiên và con người tự ý thức. Theo ông, con người mà trong chừng mực nhất định, là một thực thể (LUAN.nay 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay hành động một cách không tự chủ và vô ý thức, thì thuộc về thế giới tự nhiên, cũng như ánh sáng, không khí, nước, lửa, đất và cây cối. Trong con người, linh hồn và thể xác có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Con người suy nghĩ bằng cái đầu, bằng bộ óc của chính mình, mà đầu óc tồn tại thực sự có cảm tính.
Ông cũng đã đề cập đến bản tính tự nhiên của con người và cho rằng bản tính tự nhiên của con người là tồn tại thực, tuy nhiên, ông đã không thấy được tính biện chứng, tính năng động của yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong quá trình hình thành, phát triển con người. Các nhà khoa học phương Tây hiện đại đã đạt được nhiều tiến bộ trong nghiên cứu con người. Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người nhưng chưa thấy tác giả nào đưa ra định nghĩa hay khái niệm về hai yếu tố này. Như vậy, yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội đã được đề cập, nghiên cứu trong lịch sử triết học từ thời cổ đại (cả phương Đông và phương Tây), tuy nhiên, do trình độ nhận thức, ý thức giai cấp và chịu ảnh hưởng của những quan điểm triết học khác nhau mà quan điểm của họ về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội là khác nhau.
Các tác giả chưa đưa ra khái niệm về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người, chưa nhận thức được rằng tuy yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội có vị trí, vai trò khác nhau đối với con người nhưng chúng thống nhất với nhau chi phối sự hình thành, phát triển của con người. Quan điểm mác xít Xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để và phương pháp luận biện chứng, trong quá trình nghiên cứu con người triết học Mác - Lênin đã khẳng định: yếu tố (mặt) tự nhiên, yếu tố (mặt) xã hội cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng chi phối quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của con người. Triết học Mác - Lênin đã xem xét con người hiện thực trong sự phát triển lịch sử, cụ thể của nó. Con người trong triết học Mác - Lênin ở một chừng mực nào đó là hiện thân của những quan hệ kinh tế, là đại biểu cho quan hệ giai cấp và lợi ích nhất định, nhưng không phải vì thế mà khái niệm con người trong triết học Mác - Lênin chỉ gắn liền với các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, mà còn bao gồm trong đó toàn bộ các mặt của đời sống con người, tức là từ khởi (LUAN.nay 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay nguồn “tổ chức thể chất”, đời sống vật chất cho đến đời sống tinh thần của con người.
Khi đưa ra luận điểm con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội thì con người trong triết học Mác - Lênin là sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội. Hai yếu tố này kết hợp chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau, chi phối, tác động lẫn nhau và chúng chi phối, ảnh hưởng đến mọi hoạt động sống của mỗi con người cũng như của cộng đồng và toàn xã hội. Sự tiến bộ của triết học Mác - Lênin khi nghiên cứu vấn đề này là ở chỗ, khi khẳng định được vai trò của yếu tố xã hội của con người thì cũng đồng thời khẳng định được vai trò quan trọng của yếu tố tự nhiên, điều này được thể hiện rõ khi C.Mác khái quát về bản chất con người trong tác phẩm “Luận cương về Phoi ơ bắc”. Trên cơ sở kế thừa những giá trị của học thuyết Đácuyn về nguồn gốc loài người và các tri thức khoa học của nhân loại, triết học Mác - Lênin đã chỉ rõ sự xuất hiện loài người cũng tuân theo qui luật chọn lọc tự nhiên.
Con người có nguồn gốc từ vượn, nhưng con người khác với vượn về chất. Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” C.Mác đã khẳng định rằng, con người có nguồn gốc từ thế giới tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên, gắn bó với tự nhiên cho nên con người luôn chứa đựng những yếu tố của tự nhiên - đó là yếu tố sinh học [65, tr. Con người cũng có đầy đủ các đặc trưng của sinh vật, tuân theo các qui luật sinh học, qui luật của tự nhiên như: con người phải tìm kiếm thức ăn, nước uống trong thế giới tự nhiên; con người phải đấu tranh để sinh tồn, cơ thể con người cũng phải tuân theo những qui luật thích ứng với môi trường, qui luật di truyền, biến dị, tiến hoá của sinh học… để tồn tại và phát triển, song triết học Mác - Lênin không thừa nhận quan điểm cho rằng cái duy nhất tạo nên bản chất con người là mặt tự nhiên. Con người vốn là một sinh vật cho nên có đầy đủ các đặc trưng của sinh vật.
Song, con người lại có sự khác biệt về chất, so với các sinh vật khác, đó chính là sự xuất hiện mặt xã hội của con người. Con người là sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hoá. Bộ óc của con người có cấu trúc tinh vi, phức tạp, cùng với đôi tay được giải phóng là tiền đề quan trọng của ý thức: “Bộ não lớn xuất hiện đã tạo ra những tiền đề tự nhiên quan trọng của (LUAN.nay 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay ý thức” [74, tr.