Chương 1 QUAN NIỆM TRIET HỌC VE YEU TO TỰ NHIÊN, YEU TO XÃ HỘI VA SUC KHOE CON NGUOI 1. Quan niệm triết học về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người 1. Sơ lược một số quan niệm trong lịch sử Các nhà triết học cổ đại trong quá trình đi tìm hiểu bản tính con người đã dé cập đến yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người ở những mức độ khác nhau. Một số nhà triết học phương Đông cô đại đã có những nhận thức khá sâu sắc về những yếu tố tự nhiên ngự trị trong mỗi con người qui định bản tính con người, họ đưa ra một hệ thống các qui phạm dao đức dé tu dưỡng mình và nhằm giáo dục cho xã hội.
Một số trường phái triết học đã đề cập đến mặt tự nhiên chi phối hành vi con người như là bản năng, theo họ, trong con người luôn diễn ra sự chế ước lẫn nhau một bên là bản năng, một bên là ý thức con người. Các nhà triết học phương Tây cô đại đã cho rằng bản tính con người là yếu tố tự nhiên tất yếu, là cái giống nhau, cái bam sinh trong mỗi con người, còn sự khác nhau giữa con người đó là do môi trường tạo nên. Đã có tác giả đưa ra những tiêu chí để phân biệt giữa con người và con vật, tuy chưa chỉ ra được bản tính tự nhiên và bản chất xã hội ở con người nhưng khi nói về con người, các nhà triết học đều đã đề cập đến một trong hai hoặc cả hai yếu tố đó trong tư tưởng triết học của mình. Tuy ông không đưa ra khái niệm yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội, vai trò cũng như mối liên hệ giữa chúng, nhưng trong nhận thức của ông về bản tính con người đã có một sự tiễn bộ về chất.
Trong lĩnh vực y học, Hypôcrát (460-377TCN) cho rằng, con người bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên mình đang sống. Người thầy thuốc cần chú ý đến chế độ ăn uống, cách sinh hoạt, tuổi tác, hoàn cảnh sống của người bệnh, đất đai, nguồn nước, thời tiết địa phương nơi có dịch. Tuy chưa chỉ rõ được sự ảnh hưởng của yêu tô tự nhiên, yêu tô xã hội tới sức khỏe con người và vận dụng 14 nó vào trong quá trình điều trị bệnh tật, song ông đã thấy bệnh tật có những nguyên nhân hiện diện ở môi trường xung quanh con người và phát triển theo qui luật tự nhiên [39, tr. Dưới sự thống trị của tôn giáo va thần quyên, triết học thời Trung cổ đã tuyệt đối hoá yếu tố tinh than của con người, chính điều này đã kìm hãm con người trong sự khắc kỷ, kìm hãm sự phát triển tự nhiên của con người cả về mặt thể chất và trí tuệ.
Do trình độ nhận thức cũng như ý thức tôn giáo mà mặt tự nhiên của con người ít được quan tâm trong thời kỳ này. Van dé con người đã được hầu hết các nhà triết học thời kỳ Phục hưng quan tâm nghiên cứu. Vào thời kỳ này, một số ngành khoa học về con người như giải phẫu, sinh lý, sinh lý học thần kinh, sinh hoá. phát triển mạnh mẽ, tạo ra những tiền đề khoa học quan trọng cho triết học nghiên cứu về con người, tuy vậy, cách nhìn con người của họ cũng chỉ mới dừng lại ở góc độ thé xác và tinh thần.
Con người được phân tích, mô xẻ giống một cái máy đang hoạt động. Mặc dù chưa đưa ra khái nệm về yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong con người, song những quan điểm duy vật về “con người tự nhiên” thời kỳ này đã trở thành những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của những quan điểm khoa học về con người sau này. Trong triết học cổ điển Đức van dé con người đã được nghiên cứu khá sâu sắc.Hêghen trong quá trình chứng minh “ý niệm tuyệt đối” là thực tại duy nhất và bao trùm tất cả, tuy chưa dùng khái niệm yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội nhưng ông đã lí giải khá sâu sắc mối quan hệ giữa yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội. Ong cho rang, con người vừa là chủ thể, vừa là kết quả của quá trình hoạt động của chính bản thân chủ thé ấy, hoạt động của con người ngày càng phát triển bao nhiêu thì ý thức càng mang bản chất xã hội bấy nhiêu.
Như vậy, nếu lược bỏ yếu tố thần bí trong triết học G.Hêghen thì tư tưởng nổi bật của ông là: con người hoàn thiện chính là nhờ lao động, song G.Hêghen đã sai lầm ở chỗ biến con người thành tự ý thức và tự ý thức được được coi là phương thức tồn tại duy nhất của con người.Phoiobắc cũng đã phân biệt con người tự nhiên và con người tự ý thức. Theo ông, con người mà trong chừng mực nhất định, là một thực thể 15 hành động một cách không tự chủ và vô ý thức, thì thuộc về thế giới tự nhiên, cũng như ánh sáng, không khí, nước, lửa, đất và cây cối. Trong con người, linh hồn và thé xác có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Con người suy nghĩ băng cái đầu, bằng bộ óc của chính mình, ma đầu óc tôn tại thực sự có cảm tính.
Ông cũng đã đề cập đến bản tính tự nhiên của con người và cho rằng bản tính tự nhiên của con người là tồn tại thực, tuy nhiên, ông đã không thấy được tính biện chứng, tính năng động của yếu tô tự nhiên và yếu tố xã hội trong quá trình hình thành, phát triển con người. Các nhà khoa học phương Tây hiện đại đã đạt được nhiều tiễn bộ trong nghiên cứu con người. Nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội của con người nhưng chưa thấy tác giả nào đưa ra định nghĩa hay khái niệm về hai yếu tổ này. Như vậy, yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội đã được đề cập, nghiên cứu trong lich sử triết học từ thời cỗ đại (cả phương Đông và phương Tây), tuy nhiên, do trình độ nhận thức, ý thức giai cấp và chịu ảnh hưởng của những quan điểm triết học khác nhau mà quan điểm của họ về yếu tố tự nhiên va yếu tô xã hội là khác nhau.
Các tác giả chưa đưa ra khái niệm về yếu tô tự nhiên và yếu t6 xã hội của con người, chưa nhận thức được rằng tuy yếu tô tự nhiên và yêu tố xã hội có vị trí, vai trò khác nhau đối với con người nhưng chúng thống nhất với nhau chi phối sự hình thành, phát triển của con người. Quan điểm mác xít Xuất phát từ thế giới quan duy vật triệt để và phương pháp luận biện chứng, trong quá trình nghiên cứu con người triết học Mác - Lênin đã khang định: yếu tố (mặt) tự nhiên, yếu tố (mặt) xã hội cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng chi phối quá trình hình thành, tồn tại va phát triển của con người. Triết học Mác - Lênin đã xem xét con người hiện thực trong sự phát triển lịch sử, cụ thể của nó. Con người trong triết học Mác - Lênin ở một chừng mực nao đó là hiện thân của những quan hệ kinh tế, là đại biéu cho quan hệ giai cấp và lợi ích nhất định, nhưng không phải vì thế mà khái niệm con người trong triết học Mác - Lênin chỉ gan liền với các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, mà còn bao gôm trong đó toàn bộ các mặt của đời sông con người, tức là từ khởi 16 nguôồn “tổ chức thé chất”, đời sống vật chat cho đến đời sống tinh thần của con người.
Khi đưa ra luận điểm con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội thì con người trong triết học Mác - Lênin là sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố tự nhiên và yếu tô xã hội. Hai yếu tô này kết hợp chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau, chi phối, tác động lẫn nhau và chúng chi phối, ảnh hưởng đến mọi hoạt động sống của mỗi con người cũng như của cộng đồng và toàn xã hội. Sự tiến bộ của triết học Mác - Lênin khi nghiên cứu vẫn đề này là ở chỗ, khi khăng định được vai trò của yếu tố xã hội của con người thì cũng đồng thời khang định được vai trò quan trọng của yếu tô tự nhiên, điều này được thé hiện rõ khi C.Mác khái quát về bản chất con người trong tác phâm “Luận cương về Phoi ơ bắc”. Trên cơ sở kế thừa những giá trị của học thuyết Dacuyn về nguồn gốc loài người và các tri thức khoa học của nhân loại, triết học Mác - Lênin đã chỉ rõ sự xuất hiện loài người cũng tuân theo qui luật chọn lọc tự nhiên.
Con người có nguồn gốc từ vượn, nhưng con người khác với vượn về chất. Trong tác phâm “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” C.Mác đã khang định rang, con người có nguồn gốc từ thế giới tự nhiên, là một bộ phận của tự nhiên, gan bó với tự nhiên cho nên con người luôn chứa đựng những yếu tố của tự nhiên - đó là yếu tố sinh học [65, tr. Con người cũng có đầy đủ các đặc trưng của sinh vật, tuân theo các qui luật sinh học, qui luật của tự nhiên như: con người phải tìm kiếm thức ăn, nước uống trong thế giới tự nhiên; con người phải đấu tranh dé sinh tồn, cơ thé con người cũng phải tuân theo những qui luật thích ứng với môi trường, qui luật di truyền, biến di, tiến hoá của sinh học. dé tồn tại và phát triển, song triết học Mác - Lênin không thừa nhận quan điểm cho rằng cái duy nhất tạo nên bản chất con người là mặt tự nhiên.
Con người vốn là một sinh vật cho nên có đầy đủ các đặc trưng của sinh vật. Song, con người lại có sự khác biệt về chất, so với các sinh vật khác, đó chính là sự xuất hiện mặt xã hội của con người. Con người là sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hoá. Bộ óc của con người có cấu trúc tinh vi, phức tạp, cùng với đôi tay được giải phóng là tiền đề quan trọng của ý thức: “Bộ não lớn xuất hiện đã tạo ra những tiền đề tự nhiên quan trọng của 17 ý thức” [74, tr.
Sự khác biệt lớn nhất giữa con người và các sinh vật khác chính là nhờ vai trò của lao động.Ăngghen đã thấy được vai trò to lớn của lao động đối với con người: “Có thé phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, băng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được.