Chương 1 - Giới thiệu: Chương này trình bày về lý do hình thành đề tài, nêu lên các mục tiêu, phương pháp nghiên cứu, phạm vi thực hiện và ý nghĩa của đề tài. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm: các định nghĩa về các khái niệm PsyCap, OCB, sự gắn kết với công việc, thành quả làm việc và ý định nghỉ việc của nhân viên. Bên cạnh đó, chương này cũng đề cập đến các lý thuyết nền và một vài nghiên cứu đi trước liên quan đến chủ đề này. Dựa trên các cơ sở đó, mô hình và giả thuyết nghiên cứu được đề xuất.
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, kế thừa và hiệu chỉnh thang đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu, thiết kế mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu. 6 Chương 4 – Phân tích kết quả: Chương này trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm các nội dung chính như: kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và sau cùng là kết quả của phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Cuối cùng, chương này tiến hành thảo luận về các kết quả chính mà nghiên cứu thu được. Chương 5 - Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, đồng thời đưa ra các hàm ý quản trị dựa trên các kết quả đó.
Ngoài ra, một số hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo cũng được chỉ ra trong chương này. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày về cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các định nghĩa về vốn tâm lý, hành vi công dân trong tổ chức, sự gắn kết với công việc, ý định nghỉ việc và thành quả làm việc của người lao động. Ngoài ra, nội dung chương còn đề cập một số lý thuyết nền và nghiên cứu đi trước liên quan nhằm xây dựng nền tảng để hình thành các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất. Định nghĩa các khái niệm nghiên cứu 2.
Từ đó, các nhà nghiên cứu dần nhận thấy sự cần thiết của việc khai thác khía cạnh tích cực con người, một trong những khái niệm của xu hướng này đó là vốn tâm lý. Khái niệm này được Luthans và cộng sự (2007, tr.3) định nghĩa một cách đầy đủ như sau: "Vốn tâm lý là sự phát triển trạng thái tâm lý tích cực của một cá nhân, được đặc trưng bởi: (1) sự tự tin trong việc đảm nhận cũng như tạo ra các nỗ lực cần thiết để thành công trong những nhiệm vụ đầy thử thách (sự tự tin); (2) việc ghi nhận dưới góc nhìn tích cực về sự thành công trong hiện tại và tương lai (sự lạc quan); (3) có ý chí, kiên trì hướng tới các mục tiêu đã đặt ra, lên kế hoạch và cân nhắc thay đổi phương án khi cần thiết để có thể thành công (niềm hy vọng); và (4) có khả năng duy trì, chống chọi, thậm chí vượt qua được các trở ngại, nghịch cảnh và ngay cả những sự kiện mang tính tích cực để đạt được thành công (khả năng phục hồi)". Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã cho thấy sự gắn kết chặt chẽ và sự hội tụ của bốn thành tố trong khái niệm PsyCap này (Avolio & Luthans, 2006; Bandura & Locke, 2003; Gillham, 2000; Snyder, 2000; Youssef, 2004; theo Luthans, Youssef & Avolio, 2007). Đồng thời, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những thành tố riêng lẻ này khi được kết hợp lại với nhau không chỉ là sự bổ sung lẫn nhau và còn tạo ra tác động 8 tổng hợp.
Có nghĩa là việc đầu tư, phát triển và quản lý PsyCap một cách tổng thể sẽ đem lại kết quả lớn hơn so với tổng tác động riêng lẻ của từng thành tố cấu thành (Luthans, Youssef & Avolio, 2007). PsyCap và các thành phần của nó được nhận định là có thể đo lường và phát triển được thông qua việc đào tạo cũng như rèn luyện một cách có chủ đích. Không chỉ vậy, chúng còn có thể được quản lý để tạo ra những tác động nhất định lên thái độ, hành vi và thành quả làm việc của nhân viên (Luthans, 2012). Tóm lại, PsyCap là một dạng nguồn lực mang các đặc điểm: duy nhất (khó bắt chước), có thể đo lường, có thể phát triển và có tác động lên thành quả làm việc, thái độ và hành vi con người (Luthans & Youssef, 2004; Luthans, Youssef & Avolio, 2007).
Vốn kinh tế truyền Vốn con Vốn tâm lý: Vốn xã hội: thống: tài chính, tài sản người: kinh sự tự tin, niềm mạng lưới hữu hình, công nghệ nghiệm, học hy vọng, sự quan hệ, bạn (nhà xưởng, thiết bị, vấn, kỹ năng, lạc quan và bè. kiến thức, sáng khả năng phục bằng sáng chế, dữ liệu). Mở rộng nguồn vốn để tạo lợi thế cạnh tranh (Luthans, Luthans & Luthans, 2004) PsyCap cũng cần được phân biệt với vốn con người (human capital) và vốn xã hội (social capital). Trong đó, vốn con người nói về các kiến thức, trình độ học vấn, kinh nghiệm, kỹ năng của con người (Becker, 1993 theo Newman, Ucbasaran, Zhu & Hirst, 2014).
Vốn xã hội đề cập đến mạng lưới mối quan hệ, bạn bè, đồng nghiệp, những người có thể giúp đỡ mình cả trong công việc và cuộc sống (Luthans, Luthans & Luthans, 2004). Dù vốn con người và vốn xã hội đều có những tác động tích cực nhất định thì việc đầu tư và phát triển PsyCap vẫn được xem là điều cần thiết. Cụ thể, vốn con người chỉ mới dừng lại ở việc phát triển tri thức (những kiến thức bạn biết), vốn xã hội đề cập đến những mối quan hệ trong xã hội (những người bạn biết), trong khi đó PsyCap vượt xa hơn và hướng đến việc định hình "bạn là ai" và "bạn sẽ trở nên như thế nào" (Luthans & Youssef, 2004; Luthans, Luthans & Luthans, 2004).1 thể hiện sự mở rộng của các nguồn lực cần thiết mà một doanh nghiệp nên đầu tư để có thể giành được lợi thế cạnh tranh và tồn tại trong bối cảnh thị trường ngày càng phức 9 tạp (Luthans, Luthans & Luthans, 2004). Có thể thấy rằng, PsyCap thực sự là một nguồn lực quý giá của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải tập trung phát triển để có thể thu được nhiều lợi ích từ nó.
Để có thể hiểu rõ hơn về khái niệm này, từng thành tố của PsyCap được định nghĩa cụ thể hơn trong các phần tiếp theo. Sự tự tin Stajkovic và Luthans (1998) định nghĩa sự tự tin là niềm tin của mỗi cá nhân về khả năng họ có thể huy động các động lực, nguồn lực nhận thức và hành động cần thiết để thực hiện thành công một nhiệm vụ cụ thể trong một bối cảnh nhất định. Bandura (1997, theo Luthans, Youssef & Avolio, 2007) cho rằng xác suất mà một người đánh giá khả năng họ có thể đảm nhận một nhiệm vụ cụ thể được xem là ước tính về mức độ tự tin của người đó. Sự tự tin được xem là yếu tố khích lệ và tạo ra sự nhiệt huyết để mỗi người theo đuổi mục đích cũng như cố gắng đầu tư thật nhiều thời gian, công sức để có thể thành công (Luthans, Youssef & Avolio, 2007).
Niềm hy vọng Thành tố niềm hy vọng trong PsyCap được định nghĩa theo Snyder và cộng sự (1991) là một trạng thái tích cực, có động lực và dựa trên cảm giác thành công, được tạo ra bởi sự tương tác giữa (1) sự quyết tâm hướng đến mục tiêu và (2) việc thiết lập kế hoạch hay các con đường khác nhau để đạt được mục tiêu. Thành phần thứ nhất đề cập đến việc một cá nhân có khả năng thiết lập các mục tiêu thiết thực, thách thức và cố gắng đạt được những mục tiêu đó thông qua quyết tâm, nghị lực và nhận thức về kiểm soát nội tại. Thành phần thứ hai nói về khả năng lập kế hoạch, tạo ra nhiều phương án dẫn đến mục tiêu mong muốn, dùng để thay thế khi hướng đi ban đầu không còn phù hợp và không thể tiếp tục được nữa. Cả hai thành phần này có mối quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau, trong đó ý chí và quyết tâm của một người sẽ thúc đẩy việc tìm kiếm những con đường mới; còn sự sáng tạo, đổi mới và phát triển các phương án thay thế sẽ kích thích tạo ra năng lượng để kiên trì tiến gần đến thành công (Snyder, 2000).
Sự lạc quan 10 Khái niệm sự lạc quan trong PsyCap tập trung nhấn mạnh vào cách giải thích các sự việc xảy ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai theo hướng tích cực bất kể bản chất của sự kiện đó là tiêu cực, hay tích cực (Luthans, Youssef & Avolio, 2007). Cụ thể, sự lạc quan ở đây đề cập đến hai khía cạnh quan trọng trong phong cách giải thích của một người gồm: tính dài hạn (độ dài về mặt thời gian) và tính bao quát hay bao trùm của vấn đề (độ rộng) (Seligman, 2002). Xét về độ dài hạn, khi một điều xấu xảy ra, người lạc quan sẽ giải thích nguyên nhân dẫn đến điều đó chỉ là tạm thời, nhanh chóng biến mất. Xét về độ bao quát, khi gặp một vấn đề không mong muốn, người lạc quan sẽ có xu hướng cụ thể hóa bằng cách giải thích sự việc đó chỉ diễn ra trong một tình huống, bối cảnh nhất định thay vì đánh đồng toàn bộ.
Do đó, người lạc quan sẽ nhanh chóng bỏ qua thất bại đó và vẫn tiếp tục phần còn lại của công việc hay mục tiêu mà họ đang hướng tới. Tóm lại, sự lạc quan là việc giải thích các vấn đề tốt đẹp theo hướng tồn tại lâu dài và có tính bao quát cao; ngược lại, giải thích các vấn đề tồi tệ theo hướng chỉ là tạm thời và xảy ra trong một trường hợp cụ thể (Seligman, 1998 theo Youssef & Luthans, 2007). Khả năng phục hồi Xuất phát từ lĩnh vực nghiên cứu về trẻ em, khả năng phục hồi được định nghĩa là một hiện tượng phát triển các hành vi để đáp ứng tích cực với những nghịch cảnh hay rủi ro trong một tình huống nào đó (Masten & Reed, 2002). Trong vốn tâm lý, Luthans (2002) mở rộng ý nghĩa của khả năng phục hồi không chỉ đề cập đến khả năng chống chọi lại những tình huống khó khăn, mà còn bao gồm việc vượt qua được các sự kiện tích cực (ví dụ như đạt được thành tích cao) để trở lại trạng thái cân bằng, đồng thời có ý chí vượt ra khỏi giới hạn của mỗi người.