Chương 1. Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chƣơng này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu luận văn. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chƣơng này trình bày cơ sở lý thuyết về thu nhập, thu hồi đất, tổng quan các nghiên cứu liên quan và xây dựng mô hình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Chƣơng này trình bày quy trình nghiên cứu, phƣơng pháp thu thập và phân tích số liệu Chương 4.
Thực trạng sự thay đổi thu nhập của hộ gia đình nông thôn sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Chƣơng này trình bày tổng quan về huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, các yếu tố tác động đến sự thay đổi thu nhập của hộ gia đình nông thôn sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Chương 5. Giải pháp tăng thu nhập cho lao động nông thôn bị thu hồi đất huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Chƣơng này đề xuất một số giải pháp tăng thu nhập cho lao động nông thôn bị thu hồi đất huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang 14 Tóm tắt chƣơng 1 Trong chƣơng này, tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lao động và lao động nông thôn 2.
Khái niệm lao động Theo Luật Lao động (2019) thì lao động đƣợc xem là tất cả các hoạt động quan trọng của con ngƣời, tất cả các hoạt động này tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội. Nguyễn Bình Giang (2012) thì lao động đƣợc xem là tất cả các hoạt động có chủ đích của con ngƣời dựa trên các công cụ lao động để biến chúng trở thành của cải vật chất cần cho nhu cầu của họ và cho xã hội. Huỳnh Văn Chƣơng (2010) thì lao động đƣợc xem là tất cả các là yếu tố đầu vào trong tất cả mọi quá trình sản xuất, đây là quá trình mà con ngƣời sử dụng sức lao động của mình gồm thể lực và trí tuệ để đƣa vào các hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra sản phẩm. Dƣơng Ngọc Thành và Nguyễn Minh Hiếu (2017) thì lao động đƣợc xem là tất cả các hoạt động có ý thức của con ngƣời, đó là quá trình mà con ngƣời sử dụng các công cụ lao động để tác động lên đối tƣợng lao động nhằm mục đích tạo ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của họ và cho xã hội.
Lực lƣợng lao động hay dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những ngƣời đủ 15 tuổi trở lên đang có hoặc không có việc làm nhƣng có nhu cầu việc làm (phổ biến những ngƣời đủ tuổi 15 – 55 tuổi đối với nữ, đến 60 tuổi đối với nam). Khái niệm lao động nông thôn Theo Luật Lao động (2019) thì lao động đƣợc xem là tất cả những ngƣời thuộc lực lƣợng lao động, trong toàn bộ các ngành kinh tế nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại nông thôn. Dƣơng Ngọc Thành và Nguyễn Minh Hiếu (2017) thì lao động đƣợc xem là toàn bộ các hoạt động sản xuất để tạo ra của cải vật chất của lao động nông thôn trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ nông thôn … 2. Đ c điểm của lao động nông thôn “Thứ nhất: Là mang tính chất thời vụ cao và không thể xóa bỏ đƣợc tính chất này.
Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tác động và bị chi phối mạnh mẽ bởi các qui luật sinh học và điều kiện tự nhiên của từng vùng (khí hậu, đất đai,…). Do đó, quá trình sản xuất mang tính thời vụ cao, thu hút lao động không đồng đều. Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng lao động ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp hơn” (Dƣơng Ngọc Thành và Nguyễn Minh Hiếu, 2017). “Thứ hai: Lao động nông thôn rất dồi dào và đa dạng về độ tuổi và có thích ứng lớn.
Do đó, việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lực lao động có ý nghĩa rất quan trọng và phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp tổ chức quản lý lao động tốt để tăng cƣờng lực lƣợng lao động cho sản xuất nông nghiệp” (Dƣơng Ngọc Thành và Nguyễn Minh Hiếu, 2017). “Thứ ba: Lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp. Sản xuất nông nghiệp có nhiều việc gồm các khâu với các tính chất khác nhau. Hơn nữa mức độ áp dụng máy móc thiết bị vào sản xuất còn thấp vì thế mà sản xuất nông nghiệp chỉ đòi hỏi về sức khỏe, sự lành nghề và kinh nghiệm.
Mỗi lao động có thể đảm nhận nhiều công việc khác nhau nên lao động nông thôn ít chuyên sâu hơn lao động trong các ngành công nghiệp và một số ngành khác. Bên cạnh đó, phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổ thông, ít đƣợc đào tạo, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm và 17 sức khỏe, tổ chức lao động đơn giản, công cụ lao động cũng thô sơ mang tính tự chế cao. Lực lƣợng chuyên sâu, lành nghề, lao động chất xám không đáng kể, phân bố lao động không đồng đều, vì vậy mà hiệu suất lao động thấp, khó khăn trong việc tiếp thu công nghiệp hiện đại vào sản xuất” (Dƣơng Ngọc Thành và Nguyễn Minh Hiếu, 2017). Hộ gia đình (nông hộ) Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng nhƣ một số từ điển chuyên ngành kinh tế, ngƣời ta định nghĩa về “hộ” nhƣ sau: “Hộ” là tất cả những ngƣời sống chung trong một ngôi nhà và nhóm ngƣời đó có cùng chung huyết tộc và ngƣời làm công, ngƣời cùng ăn chung.
Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “Hộ” gồm những ngƣời sống chung dƣới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ. Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: “Hộ” là một nhóm ngƣời có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm. Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhƣng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”. Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm ngƣời có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh.
Hộ là một đơn vị kinh tế giống nhƣ các công ty, xí nghiệp khác”. Tóm lại, trong nền kinh tế, hộ gia đình nông dân đƣợc quan niệm trên các khía cạnh: Hộ gia đình nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tƣ liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) đƣợc góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dƣới một mái nhà, ăn chung, 18 mọi ngƣời đều hƣởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là ngƣời lớn trong hộ gia đình. Gia đình (family) là một đơn vị xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng, có cùng chung huyết tộc. Trong nhiều xã hội khác nhau các mối quan hệ họ hàng xây dựng nên một gia đình rất khác nhau.
Gia đình chỉ đƣợc xem là hộ gia đình (Household) khi các thành viên gia đình có cùng chung một cơ sở kinh tế. Chủ hộ gia đình: Theo Luật Cƣ trú (sửa đổi) đã đƣợc Quốc hội khóa XIV thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2021. Tại Điều 10 có nêu khái niệm chủ hộ là những ngƣời có năng lực hành vi dân sự đầy đủ do các thành viên hộ gia đình thống nhất đề cử. Theo truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, chủ hộ gia đình thƣờng là có uy tín nhất trong gia đình, là ngƣời đại diện cho gia đình ra các quyết định về kinh tế, và các vấn đề quan trọng khác.
Thu nhập Theo từ điển kinh tế thị trƣờng thì “Thu nhập cá nhân là tổng số thu nhập đật từ các nguồn thu khác nhau của cá nhân trong thời gian nhát định, thu nhập cá nhân từ nhiều nguồn khác nhau đều từ thu nhập quốc doanh”. Theo Dƣơng Ngọc Thành và Nguyễn Minh Hiếu (2017): “Thu nhập cá nhân là thu nhập mà các hộ gia đình nhận đƣợc từ mọi ngƣời bao gồm các khoản làm ra và các khoản chuyển nhƣợng. Thu nhập cá nhân khả dụng là thu nhập cá nhân trừ đi các khoản thu thuế cá nhân”. Tóm lại thu nhập của lao động nông thôn là số tiền mà họ nhận đƣợc từ các nguồn thu lao động và họ đƣợc toàn quyền sử dụng cho bản thân và cho gia đình.
Thu hồi đất Theo Luật đất đai (2013) thì đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân và đƣợc Nhà nƣớc ta đại diện sở hữu và quản lý. Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất cho ngƣời dân theo quy định của Luật đất đai. Theo Luật đất đai (2013) thì thu hồi đất là việc làm mà Nhà nƣớc ra quyết định nhằm mục đích thu hồi quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai để sử dụng vào các mục đích khác nhau nhƣ đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển lợi ích quốc gia, phát triển các dịch vụ công cộng, hệ thống đƣờng giao thông, phát triển kinh tế, … Việc thu hồi đất đƣợc chia làm ba loại: Thu hồi đất do nhu cầu của nhà nƣớc, thu hồi đất vì các lý do đƣơng nhiên và thu hồi đất do vi phạm các quy định của pháp luật đất đai. Ngƣời sử dụng đất bị thu hồi có thể là hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cƣ, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài, tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài.
Lý thuyết kinh tế hộ gia đình Frank Ellis (1988) đƣa ra một số định nghĩa về nông dân, nông hộ. Theo ông các đặc điểm đặc trƣng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những ngƣời làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trƣờng là: Thứ nhất, đất đai: Ngƣời nông dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trƣớc những thiên tai. Thứ hai, lao động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tế nổi bật của ngƣời nông dân.