Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về sinh kế, sinh kế bền vững, tìm hiểu các nghiên cứu đi trước về vấn đề sinh kế cũng như sinh kế bền vững. Tác giả tiến hành tổng hợp các tiêu chí để đánh giá về sinh kế bền vững, các tiêu chí đánh giá về công ăn việc làm, thu nhập, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương khi đền bù, giải tỏa, giúp đỡ người dân tái định cư.Khái niệm về sinh kế Theo khái niệm của Bộ phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999) Sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ. Theo khái niệm nêu trên thì sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như: các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ.
Thêm vào đó, để hiểu rõ hơn về sinh kế bền vững, cần thiết tìm hiểu thêm: Tiếp cận sinh kế và phương pháp tiếp cận sinh kế. - Tiếp cận sinh kế là cách suy nghĩ về mục tiêu, phạm vi và những ưu tiên cho phát triển nhằm đẩy nhanh tiến độ xoá nghèo. Đây là phương pháp tiếp cận sâu rộng với mục đích nắm giữ và cung cấp các phương tiện để tìm hiểu nguyên nhân và các mặt quan trọng của đói nghèo với trọng tâm tập trung vào một số yếu tố (như các vấn đề kinh tế, an ninh lương thực và phát triển bền vững). - Phương pháp tiếp cận sinh kế có mục đích giúp người dân đạt được thành quả lâu dài trong sinh kế mà những kết quả đó được đo bằng các chỉ số do bản thân họ tự xác lập và vì thế họ sẽ không bị đặt ra bên ngoài.
Theo Ashley and Carney (1999), sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu, tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh 6 sống. Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu và phục hồi sau các cú sốc hoặc cải thiện năng lực, tài sản, cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp và đóng góp lợi ích cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu trong ngắn hạn và dài hạn. Sinh kế bền vững 2. Khái niệm Về căn bản, các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay nông hộ tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ, đồng thời chịu sự tác động của các thể chế, chính sách và những quan hệ xã hội mà cá nhân hoặc hộ gia đình đã thiết lập trong cộng đồng.
Theo Ellis (2000), ông cho rằng một sinh kế bao gồm những tài sản (tự nhiên, phương tiện vật chất, con người, tài chính và nguồn vốn xã hội), những hoạt động và cơ hội được tiếp cận đến các tài sản và hoạt động đó (đạt được thông qua các thể chế và quan hệ xã hội), mà theo đó các quyết định về sinh kế đều thuộc về mỗi cá nhân hoặc mỗi nông hộ. Theo Chamber (1989), Reardon, and Taylor (1996), một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những áp lực và những cú sốc, duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên. Ellis (2004, 2005), Barrett và Reardon (2000) đã đề xuất ra các chính sách để xác định sinh kế cho người dân theo hướng bền vững được xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô và tác động của các yếu tố bên ngoài. Các tác giả cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân.
Đồng thời nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế, xoá đói giảm nghèo. Sự bền vững trong các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ của lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng, các chính sách phát triển. Tuy vậy, sự bền vững của tài nguyên thiên nhiên là yếu tố nền tảng trong việc quyết định một sinh kế có bền vững hay không. 7 Theo Chambers & Conway (1991) Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống, đặc biệt, sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn”.
Hiện nay, sinh kế bền vững đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Mục tiêu cao nhất của quá trình phát triển kinh tế ở các quốc gia là cải thiện được sinh kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải luôn đặt nó trong mối quan hệ với phát triển bền vững. Các nghiên cứu về sinh kế hiện nay về cơ bản đã xây dựng khung phân tích sinh kế bền vững trên cơ sở các nguồn lực của hộ gia đình bao gồm nguồn lực vật chất, tự nhiên, tài chính, xã hội và nhân lực. Nội dung của sinh kế bền vững Theo Nguyễn Văn Sửu (2014), sinh kế bền vững được trình bày chi tiết và có hệ thống trong các Bản hướng dẫn sinh kế bền vững do DFID công bố vào năm 1999.
Nội dung chính yếu của bản hướng dẫn này nhằm để thúc đẩy các chính sách, hành động vì sinh kế bền vững và giảm nghèo. Các nô ̣i dung chin ́ h của khung phân tić h này có thể đươ ̣c khái quát thành một số điểm chính dưới đây: Thứ nhất, khung phân tích này đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế. Đó là: (1) Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; (2) Các chiến lược mà họ lựa chọn để theo đuổi các ưu tiên đó; (3) Các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đế n sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả mà họ thu được; (4) Các tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mình có; (5) Bối cảnh sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ. Thứ hai, khung phân tích này lấy con người và sinh kế của họ làm trung tâm của sự phân tích, nghĩa là đặt con người ở trung tâm của sự phát triển.
Cùng với đó, 8 Chambers đã lập luận rằ ng các nghiên cứu và thực hành phát triể n nông thôn ở các quố c gia thuô ̣c thế giới thứ Ba phải đặt người nghèo lên vi ̣trí số một ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô. Vì cho đế n đầ u những năm 1980, vấ n đề đói nghèo ở nông thôn vẫn thường đươ ̣c những nhà nghiên cứu, giới thực hành và các quan chức nhâ ̣n thức và hiể u không đúng về mức đô ̣ “giàu có” của người nghèo hay về bản chấ t bi ̣ che giấ u của đói nghèo. Chambers cho rằ ng cầ n đă ̣t những người nghèo ở nông thôn lên vi ̣trí số mô ̣t để nghiên cứu, tìm hiể u, ho ̣c hỏi và từ đó có những hành đô ̣ng giảm nghèo mô ̣t cách thực tế hơn. Thứ ba, khung phân tích này thừa nhận rằng các chính sách, thể chế và quá trình có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và việc sử dụng các tài sản mà cuối cùng chúng đề u ảnh hưởng đến sinh kế.
Ngoài ra, khung phân tích sinh kế bề n vững được coi là một tiếp cận toàn diện trong phân tích về sinh kế và đói nghèo, vì nó thừa nhận con người không số ng cô lập trong một khu vực hay cộng đồng nào và nhấ n ma ̣nh rằ ng các nghiên cứu cần phải nhận dạng các cơ hội và hạn chế liên quan đến sinh kế ở các góc đô ̣: khu vực, cấp độ và lĩnh vực. Nghĩa là: (1) Áp dụng phân tích sinh kế xuyên khu vực, lĩnh vực và các nhóm xã hội; (2) Thừa nhận và hiểu được nhiều ảnh hưởng đến con người; (3) Công nhận nhiều tác nhân; và (4) Công nhận nhiều chiến lược mà con người sử dụng để bảo đảm sinh kế của mình và nhiều kết quả mà họ theo đuổi. Thứ tư, sinh kế của con người được phân tích dưới góc độ sở hữu và tiếp cận các loại vốn, hay tài sản vốn. Ở đây, có hai khái niệm trung tâm của khung phân tích này.
Mô ̣t là “sinh kế”, một khái niệm thường được hiểu và sử dụng theo nhiều cách và ở những cấ p đô ̣ khác nhau. Trong đó, mô ̣t trong những sai lầm lớn thường thấy trong các thảo luận về phát triể n nông thôn là viê ̣c đồng nhất sinh kế đất đai với sinh kế nông thôn, nên đã làm chệch sự chú ý khỏi vô vàn các chuyển đổi liên quan đến các chiến lược sinh kế và các loại tài sản được sử dụng trong các chiến lược đó. Theo Hanstad và cộng sự (2004) và Carney (1998) nhìn chung một sinh kế đươ ̣c coi là bề n vững khi nó có khả năng ứng phó và phục hồi khi bị tác động, hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong 9 khi không làm xói mòn nền tảng của các nguồn lực tự nhiên.