Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách 6 CHƢƠNG 2 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THU ẾT 2. Khái niệm Theo Luật đất đai (2013), Nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Bồi thường về đất là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi của người sử dụng đất. Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định cuộc sống, sản xuất và phát triển.
Tổng cục Thống kê (2010), thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định. Nguồn thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi (sau khi đã trừ chi phí); từ hoạt động phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí); từ tiền công, tiền lương; và các khoản thu khác (quà tặng lãi tiết kiệm, tiền cho thuê nhà, lương hưu, trợ cấp…). Lý thuyết liên quan Theo Ngân hang Thế giới (2004), Tái định cư là một hoạt động để bù đắp toàn bộ những tổn thất kinh tế xã hội từ việc mất đất và những hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ, cùng với chính sách đền bù và những hỗ trợ thích hợp. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (2006), khi một dự án được triển khai đầu tư thì các hộ dân sẽ bị ảnh hưởng, họ nên được tư vấn, được đền bù cho những mất mát của họ, được hỗ trợ xây nhà và những hoạt động cộng đồng khác.
Những vấn đề này rất quan trọng nếu những hộ ảnh hưởng là người nghèo, khi họ không có khả năng xoay sở thì việc hỗ trợ là hết sức cần thiết. Việc thu hồi đất và tái định cư không những ảnh hưởng đến các hộ dân trong dự án mà còn ảnh hưởng rất lớn về mặt kinh tế và xã hội của địa phương có dự án được đầu tư. Các mối quan hệ cộng đồng dễ tan vỡ và bị tổn thương sau khi thu hồi đất và tái định cư. Do đó, các chính sách thu hồi đất và tái định cư nếu được thực hiện tốt thì các hộ dân bị thu hồi đất sẽ sớm được ổn định cuộc sống và có nhiều cơ hội về điều kiện kinh tế phát triển tốt hơn.
7 Việc xây dựng nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới, sẽ góp phần rất lớn vào việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương, quốc gia, tuy nhiên cộng đồng dân cư bị thu hồi đất có thể bị ảnh hưởng lớn, do có những thay đổi lớn trong việc sử dụng đất và nguồn lực tự nhiên của họ. Theo Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), để tránh hoặc tối thiểu hóa những tổn thất khi thực hiện dự án thì việc thu hồi đất và tái định cư là không thể tránh khỏi, những kế hoạch này nên được lên kế hoạch và thực hiện như chương trình phát triển. ADB chỉ ra rằng những người ảnh hưởng nên được hỗ trợ để họ cải thiện mức sống, hoặc ít nhất là phục hồi cuộc sống của họ, bằng cuộc sống cũ hoặc cao hơn trước khi họ bị thu hồi đất và di chuyển (ADB, 1995). Vấn đề phục hồi thu nhập cho những người bị thu hồi đất, theo Ngân hàng thế giới (2004) thì phục hồi thu nhập là một nội dung quan trọng của chính sách thu hồi đất, bởi khi bị thu hồi đất họ không còn nguồn lực đất đai, nên họ không còn phương tiện sản xuất, kinh doanh, kể cả việc làm và các nguồn thu nhập khác.
Những người bị thu hồi đất có nhiều rũi ro dẫn đến cuộc sống khó khăn do họ mất đất, mất việc làm, mất nhà cửa, mất phương tiện sản xuất kinh doanh. Do đó cần có kế hoạch chi tiết để phục hồi thu nhập cho họ, đảm bảo cuộc sống của họ sau khi thu hồi đất được tốt hơn. Theo mô hình sinh kế bền vững (DFID, 1999), một chính sách về bồi thường, hỗ trợ người dân bị thu hồi đất tạo được sinh kế bền vững khi nó tác động các tài sản sinh kế của người dân (con người, nhân lực, vật chất, tài chính và nguồn lực tự nhiên) và kết hợp với thay đổi phương thức sinh kế (nông nghiệp và phi nông nghiệp) đảm bảo tăng thu nhập cho người dân sau khi hồi đất. Vốn tự nhiên là tài nguyên thiên nhiên như khí hậu, đất đai, nguồn nước, tính đa dạng sinh học, hệ sinh thái, quyền tiếp cận và sử dụng tài nguyên tự nhiên.
Vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng đối với những người có cuộc sống chủ yếu dựa vào tài nguyên (chăn nuôi, trồng trọt, đánh bắt cá, hái lượm trong rừng, khai thác khoáng sản…). Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông , nhà xưởng, nước sạch vệ sinh môi trường, nhiên liệu, năng lượng, thông tin), tài sản sản xuất: công cụ sản xuất, máy móc thiết bị, tài sản tiêu dùng. Vốn vật chất giúp đáp ứng cơ bản nhu cầu của con người, do vậy nó rất cần thiết để hỗ trợ sinh kế. Vốn tài chính bao gồm tiền mặt, tiền gửi, vàng bạc đá quý, khả năng tiếp cận 8 tín dụng, tiền hưu, tiền trợ cấp chính phủ, tiền gửi của nhân dân.
Vốn tài chính là loại tài sản linh hoạt nhất trong 5 loại tài sản bởi nó có thể được chuyển đổi một cách dễ dàng thành các loại vốn khác. Vốn con người là số lượng và chất lượng lao động, quy mô nhân khẩu, giáo dục, học vấn, kiến thức, kỹ năng, tiềm năng lãnh đạo, tình trạng sức khỏe. Đây là yếu tố được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng của một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lý các nguồn vốn khác. Vốn xã hội bao gồm vị trí xã hội, liên kết với các mạng xã hội, thành viên các nhóm cộng đồng, tổ chức, các mối quan hệ tin cậy, nhượng bộ, trao đổi.
Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ. Vốn xã hội tác động trực tiếp đến các loại vốn khác bằng cách cải thiện hiệu quả của quan hệ kinh tế, vốn xã hội có thể giúp tăng thu nhập của người dân và tỷ lệ tiết kiệm, giúp cải thiện quản lý các nguồn lực chung và duy trì cơ sở hạ tầng dùng chung, mạng xã hội tạo điều kiện cho sự đổi mới, sự phát triển của kiến thức và chia sẽ các kiến thức đó. TÀI SẢN TẠO Chính sách Kết quả Hoàn cảnh SINH KẾ của nhà sinh kế của người nước - Thu nhập dân: Bị một - Bồi thường tăng cú sốc lớn thiệt hại Lựa Con người - Đời sống - Tài sản chọn - Chính sách hoạt nâng cao tạo sinh kế đào tạo động Xã - Tính bền sinh kế (đất đai) bị hội Tự nhiên chuyển đổi vững cao thu hồi nghề nghiệp - An ninh - Nhận một - Doanh lương thực Tài chính Vật chất khoản tiền nghiệp nhận đảm bảo bồi thường, lao động vào - Sử dụng hỗ trợ làm việc đất đai bền - Hỗ trợ về vững vốn, kỹ thuật Nguồn: khung sinh kế bền vững của DFID, 1999.1: Khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, 1999 9 Nhìn chung, các dự án phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta đều có chính sách đền bù, hỗ trợ người dân sau khi bị thu hồi đất và di chuyển chỗ ở, các chính sách này ngày càng hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng tốt hơn. Tuy nhiên, trong thực tế khi triển khai các dự án, các chính sách có thể thực hiện một cách chưa đầy đủ, hoặc chính sách cũng chưa đủ tốt nên cuộc sống và thu nhập của người dân sau thu hồi đất vẫn còn nhiều khó khăn.
Do vậy, phục hồi thu nhập cho người dân bị thu hồi đất là vấn đề quan trọng, nên cần phải quan tâm, có kế hoạch chuẩn bị tốt trước khi triển khai dự án. Phục hồi thu nhập nên được tham vấn của những người bị ảnh hưởng để họ có bước chuẩn bị, chủ động phối hợp để thực hiện tốt các chính sách phục hồi nhằm đảm bảo rằng những người bị ảnh hưởng sớm thích nghi với điều kiện mới trong thời gian ngắn nhất, tạo điều kiện cho họ có thu nhập và cuộc sống tốt hơn trước khi thu hồi đất. Các nguyên tắc khi thu hồi đất Bằng hoặc cao hơn mức sống trước khi có dự án là nguyên tắc chính của chương trình phục hồi thu nhập (ADB, 1995). Do đó cần phải xác định mối liên hệ giữa hoạt động thu hồi đất, di chuyển chỗ ở và tạo thu nhập.
Ngân hàng thế giới phát hiện rằng những hộ gia đình bị ảnh hưởng thu hồi đất với sự tiếp cận dễ dàng những nguồn lực sản xuất đầy đủ đã có khả năng tái tạo lại và đôi lúc cải thiện các hệ thống sản xuất hoặc sinh kế bị tổn thất. Luật đất đai sửa đổi (2003) quy định trong trường hợp không có đất sản xuất để đền bù, những người bị ảnh hưởng ngoài việc đền bù tiền, sẽ được trợ cấp cho ổn định cuộc sống, đào tạo để tìm việc làm và chuẩn bị cho công việc mới. Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, Nghị định 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chỉ ra một số dạng phục hồi thu nhập dưới hình thức bồi thường, trợ cấp, hỗ trợ, tạo việc làm, … Về quy định thu hồi đất, Luật đất đai (2013) quy định tại điều 61.