Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIEM THUC TIEN VE GIẢI QUYÉT VIỆC LAM CHO NGUOI DAN BI THU HOI DAT TREN DIA BAN CAP QUAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Cac công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Minh (2005) tại địa bàn thành phô Hà Nội cho thấy “cơ cau nghề nghiệp của vùng ven đô Hà Nội đã có nhiều biến đổi trong quá trình DTH. Các ngành nghề phi nông nghiệp phát triển, nguồn thu nhập từ các ngành nghề phi nông nghiệp tăng dần tỉ trọng trong cơ cầu nguồn thu nhập của hộ gia đình.
Các gia đình hoạt động trong các ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn so với các gia đình thuần túy làm nông nghiệp”. Nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Xuân và Nguyễn Văn Lạc (2012) đã tập trung “nghiên cứu về ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sự thay đổi diện tích đất nông nghiệp cũng như xu hướng chuyền dịch cơ cau lao động của các hộ nông dân tại xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quá trình đô thị hóa đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp của các hộ nông dân, từ đó làm cho tỷ lệ đóng góp của các ngành nghề trong tổng thu nhập cũng có sự thay đổi, thu nhập từ nông nghiệp của các hộ có xu hướng giảm từ 23.893 nghìn đồng/hộ xuống 18.787 nghìn đồng/hộ. Ngược lại, thu nhập từ kinh doanh buôn bán và tiêu thủ công nghiệp có sự gia tăng, thu nhập từ kinh doanh dịch vụ tăng từ 14.185 nghìn đồng/hộ lên 21.268 nghìn đồng/hộ.
Đây là những hộ có trình độ, có kinh nghiệm trong kinh doanh, họ đã biết cách tận dụng thời cơ và nguồn vốn từ tiền đền bù dé chuyển hướng sản xuất. Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn có một sô hộ nông dân còn gặp nhiêu khó khăn trong tìm 4 kiếm việc làm, nâng cao thu nhập. 100% các hộ nông dân đều chịu tác động từ quá trình ĐTH ở các mức độ và phương diện khác nhau. Nguồn thu nhập và việc làm của hộ nông dân có sự thay đôi mạnh.
Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp đã trở thành nguồn thu nhập chính trong khi thu nhập từ nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Bên cạnh đó, một số hộ nông dân còn gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập. Vì vậy, việc tìm các giải pháp giải quyết việc làm, tạo thu nhập 6n định cho người dân là vấn đề cần được quan tâm giải quyết”. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Ngữ và cs., (2015) cho thấy, trong giai đoạn 2005 - 2013, tong diện tích đất nông nghiệp được chuyền đổi sang các loại đất phi nông nghiệp tại thành phố Đồng Hới, tinh Quang Bình là 684,23 ha.
Cơ cau sử dụng đất của thành phố Đồng Hới giai đoạn này có sự thay đồi khá lớn. Tỷ lệ đất nông nghiệp giảm từ 66,29% năm 2005 xuống 64,36% vào năm 2013. Tỷ lệ đất phi nông nghiệp tăng từ 24,46% năm 2005 lên 31,26% năm 2013. Tỷ lệ đất chưa sử dụng giảm từ 9,24% năm 2005 xuống còn 4,37% năm 2013.
Quá trình chuyển đồi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp dưới ảnh hưởng của DTH có tác động đáng kê đến đời sống của những hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp, trong đó 5% số hộ được điều tra vẫn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống sau khi quỹ đất nông nghiệp của gia đình bị thu hồi hết. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến (2013) về “Nghiên cứu tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân huyện Qué Võ, tỉnh Bắc Ninh”. Tác giả đã thé hiện được quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa tác động đến quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và đời sống người dân huyện Quế Võ, các giải pháp đưa ra thiên về chính sách thu hồi bồi thường, về quản lý sử dụng đất theo hướng quy hoạch. Kết quả nghiên cứu đã hướng tới hiệu quả sử dụng đất sau thu hồi nhưng chưa đủ sâu và chưa chỉ tiết tới nông hộ; - Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2014) về “Nghiên cứu tác động của quá trình chuyên đổi cơ cấu sử dụng đất đến phát triển nông nghiệp, nông thôn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên”.
Tác giả đã đánh giá tác động của chuyền đổi cơ cấu sử dụng đất đến phát triển nông nghiệp, nông thôn. kết quả nghiên cứu chủ yếu mang tính lý luận về tác động của chuyên đổi cơ cau đã ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp, đời sống nông thôn. Các van đề sử dụng đất và hiệu quả của nó sau thu hồi của nông hộ chưa được nghiên cứu cụ thể. Theo Trà Thanh Danh (2012) khi nghiên cứu “mối quan hệ giữa Ban quản lý KKT Dung Quất với chính quyền địa phương, đối với lĩnh vực quản lý sử dụng đất tác giả cho rằng, quản lý đất đai là chức năng cơ bản của chính quyền địa phương 3 cấp, khi xuất hiện KKT trên địa bàn có thêm một thiết chế quản lý đất đai nhưng không đầy đủ, phụ thuộc vào chính quyền địa phương trong quản lý sử dung đất đối với dân cư, phụ thuộc về thông tin đầu vào cho các dự án bồi thường khi thu hồi đất, phụ thuộc vào sự chủ động kiểm tra về xử lý vi phạm quản lý dat đai nên tat yếu phải phối hợp với chính quyền địa phương.
Có quá nhiều công việc phải phối hợp trong khi không có quy chế nào phối hợp trong thực tế đã làm cho QLNN trong lĩnh vực quản lý đất đai không hiệu quả”. Theo Nguyễn Văn Trị (2014) nghiên cứu “quy hoạch sử dụng đất lồng ghép yếu tố môi trường, tại KKT Cửa khẩu Cầu Treo, Hà Tĩnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ tiêu chất lượng môi trường nước, không khí, tiếng ồn và đất chưa vượt ngưỡng cho phép, do dân số và kinh tế chưa phát triển. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 10 yếu tố môi trường cần giám sát tại KKT cửa khâu quốc tế Cầu Treo, Hà Tĩnh cũng như việc mở rộng các khu đô thị, phát triển các khu công nghiệp tại KKT cửa khâu quốc tế Cầu Treo sẽ gây áp lực cho việc bố trí đất đai, khu vực đất đốc sẽ chịu sự tác động của xói mòn, sạt lở đất, lũ quét; khu vực đất bằng 2 bên bờ sông Ngàn 6 Phố chịu ảnh hưởng nặng né của lũ lụt, sat lở đất do cốt đất thấp.
Việc thu hồi đất sẽ làm giảm diện tích canh tác thuận lợi, tác động rất lớn đến đời sống, việc làm, đặc biệt là nhóm cư dân nông nghiệp. Dự báo lượng chất thải sinh hoạt và công nghiệp sẽ tăng lên, đòi hỏi phải dành đất cho khu xử lý chat thai ran và hệ thong xử lý nước thải”. Nguyễn Hoàng Khánh Linh và cs., (2015) “hiệu quả sử dụng đất của KKT Lao Bảo tỉnh Quảng Tri năm 2012 đạt doanh thu trung bình là 30,49 tỷ đồng/1ha, nạp ngân sách 609,14 tỷ đồng, năm 2013 đạt doanh thu trung bình là 35,11 tỷ déng/Iha, nạp ngân sách 652,08 tỷ đồng. Kết quả nghiên cứu khang định việc sử dụng đất tai các KCN, KKT tinh Quảng Trị đã góp phần thúc đây phát triển công nghiệp, tăng trưởng kinh tế đây nhanh quá trình chuyền dịch cơ cau kinh tế theo hướng CNH, HĐH gop phan tăng thu ngân sách cho địa phương; việc hình thành các KCN, KKT đã giải quyết việc làm cho người lao động địa phương và toàn tỉnh, nâng cao thu nhập người lao động”.
Theo Nguyễn Kim Hiệu và cs., (2013) tại kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu các giải pháp, cơ chế chính sách thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, ôn định sản xuất và đời song nhan dan, phục vụ việc mở rộng va phát triển bền vững KKT Dung Quat, tinh Quang Ngãi cho rằng đã có sự tác động lớn từ quá trình xây dựng va phát triển KKT Dung Quất đến công tác quản lý sử dụng đất và đời sống việc làm của người dân địa phương. Kết quả nghiên cứu cho rằng việc thu hồi đất bó trí tái định với số lượng hộ gia đình rất lớn, nhưng tỷ lệ vào tái định cư thấp, số lao động có việc làm tại KKT chưa cao đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các hộ dân, vừa tiềm an nguy cơ dẫn đến các tệ nạn xã hội và trật tự an toàn xã hội trong các khu tái định cư và KKT Dung Quất”. Theo nghiên cứu của Doan Thị Như Quỳnh (2014) tại “KKT Nghi Sơn - tỉnh Thanh Hóa cho thấy sự tác động của việc thu hồi đất để xây dựng KKT đã làm thay đổi căn bản sinh kế của người dân địa phương. Nguồn lực tự nhiên (đất đai) bị suy giảm nhanh chóng sau thu hồi đất, đây cũng là điểm khởi đầu cho một chuỗi những thay đổi sinh kế của họ.
Mắt đất được đổi lại nguồn lực tài chính đồi đào hơn do các khoản đền bù. Tuy nhiên, người dân thiếu định hướng đúng trong việc sử dụng nên nguồn lực này đã nhanh chóng suy giảm. Nguồn vốn con người chưa được chú trọng đầu tư đúng mức nên người dân khó khăn trong việc chuyền đổi việc làm. Nguồn lực vật chất cá nhân mà chủ yếu là CSHT được đầu tư xây dựng đồng bộ sau thu hồi đất tạo điều kiện cho người dân phát triển sinh kế.
Nguồn vốn xã hội được cải thiện đáng kế khi ở mức độ tham gia vào mang lưới tổ chức đoàn thé xã hội của người dân được nâng cao sau khi thu hồi đất. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các tô chức chưa cao khiến nỗ lực của người dân chưa mang lại kết quả tương xứng. Nghiên cứu cũng đã cho thấy, các hộ dân sau khi bị thu hồi đất, tuy có thu nhập cao hơn nhưng sự ôn định và bền vững sinh kế chưa cao”. Theo Hàn Ngọc Phúc (2010), huyện Quế Võ (Bắc Ninh) là địa phương có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế - xã hội.
Huyện đã thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI, đặc biệt là hoàn thành mục tiêu chương trình của huyện đề ra giai đoạn 2016-2020, trong đó chú trọng thực hiện một số chương trình nhằm tạo việc làm cho người lao động nông thôn như: Đào tạo nghé cho người lao động nông thôn nam trong diện phải chuyên déi mục đích sử dung dat do khu công nghiệp, đô thị hoá, lao động thiếu việc làm ở nông thôn.