Nghiên Cứu Tác Động Của Trách Nhiệm Xã Hội Đến Thành Quả Hoạt Động Của Các Doanh Nghiệp Ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích tác động của trách nhiệm xã hội đến thành quả hoạt động doanh nghiệp tại Việt Nam, cung cấp góc nhìn chuyên sâu.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2022

273
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Trách nhiệm xã hội và thành quả hoạt động doanh nghiệp

Trách nhiệm xã hội (TNXH)thành quả hoạt động (TQHĐ) là hai yếu tố quan trọng trong quản lý doanh nghiệp. TNXH bao gồm các hoạt động liên quan đến đạo đức kinh doanh, phát triển bền vững, và trách nhiệm cộng đồng. TQHĐ được đo lường qua hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận doanh nghiệp, và tăng trưởng doanh nghiệp. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động xã hội của TNXH đến TQHĐ tại các doanh nghiệp Việt Nam.

1.1. Khái niệm và đo lường TNXH

TNXH được định nghĩa là cam kết của doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanhvăn hóa doanh nghiệp. Các tiêu chuẩn như GRI được sử dụng để đo lường TNXH qua các khía cạnh kinh tế, môi trường, và xã hội. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp PLS-SEM để đánh giá mức độ thực hiện TNXH tại các doanh nghiệp Việt Nam.

1.2. Đo lường TQHĐ

TQHĐ được đánh giá qua thẻ điểm cân bằng, bao gồm thành quả tài chínhthành quả phi tài chính. Các yếu tố như khách hàng, quy trình nội bộ, và học hỏi phát triển được xem xét. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 226 công ty cổ phần để kiểm tra độ tin cậy của các chỉ số đo lường.

II. Tác động của TNXH đến TQHĐ

Nghiên cứu này phân tích tác động kinh tếtác động môi trường của TNXH đến TQHĐ tại các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả cho thấy TNXH có ảnh hưởng tích cực đến thành công doanh nghiệphiệu quả kinh doanh.

2.1. Tác động trực tiếp

TNXH tác động trực tiếp đến thành quả tài chính thông qua việc cải thiện danh tiếng doanh nghiệp và thu hút khách hàng. Các doanh nghiệp thực hiện TNXH tốt thường có lợi nhuận doanh nghiệp cao hơn.

2.2. Vai trò trung gian của thành quả phi tài chính

Thành quả phi tài chính đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa TNXH và thành quả tài chính. Các yếu tố như quy trình nội bộhọc hỏi phát triển giúp tối ưu hóa chiến lược doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

III. Kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách

Nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm thúc đẩy TNXH và cải thiện TQHĐ tại các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp cần tập trung vào phát triển bền vữngquản trị doanh nghiệp hiệu quả.

3.1. Khuyến nghị cho doanh nghiệp

Các doanh nghiệp nên áp dụng các tiêu chuẩn GRI để đo lường và cải thiện TNXH. Đồng thời, cần đầu tư vào quy trình nội bộhọc hỏi phát triển để nâng cao thành quả hoạt động.

3.2. Khuyến nghị cho nhà hoạch định chính sách

Chính phủ cần ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện TNXH, đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ môi trườngphát triển bền vững. Các chính sách này sẽ giúp cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng doanh nghiệp.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu về tác động của trách nhiệm xã hội đến thành quả hoạt động của các doanh nghiệp ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP Giới thiệu Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết liên quan đến TNXH doanh nghiệp, thành quả hoạt động doanh nghiệp và ảnh hưởng của TNXH đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp và được tổ chức theo ba phần. Phần một trình bày về TNXH doanh nghiệp trong đó hệ thống hóa khái niệm TNXH, các nội dung của TNXH, các phương pháp đo lường TNXH. Phần hai trình bày về TQHĐ, bao gồm hệ thống đo lường TQHĐ nói chung, TQHĐ ở khía cạnh tài chính, TQHĐ phi tài chính, TQHĐ kết hợp tài chính và phi tài chính. Phần ba trình bày các lý thuyết có liên quan đến mối quan hệ giữa TNXH và TQHĐ, tổng quan tài liệu về sự tác động của TNXH đến TQHĐ của doanh nghiệp.

Từ đó, một số khoảng trống trong nghiên cứu đã được nêu lên trong chương này. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 1. Khái niệm Ngày nay, nhiều doanh nghiệp đang hướng đến sự phát triển bền vững. Theo xu hướng đó, các công ty ngày càng nhận thức được rằng thành công trong hoạt động kinh doanh không chỉ xuất phát từ việc tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn, thay vào đó cần thêm những yêu cầu về quan tâm và thực hiện trách nhiệm xã hội.

Từ năm 1953, Bowen đã xuất bản ấn phẩm đầu tiên về TNXH với tên gọi “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân”. Trong tác phẩm, ông đã nhấn mạnh TNXH là nhiệm vụ doanh nghiệp phải thực hiện vì những lý do sau đây: - Doanh nghiệp tồn tại trong sự quan tâm của xã hội nên những phương thức hoạt động và các quyết định của doanh nghiệp phải tuân theo những hướng dẫn chung của xã hội; - Doanh nghiệp được xem như một tổ chức đạo đức trong xã hội. 10 Tuy nhiên, đến những năm 1970, nhiều nhà kinh tế theo quan điểm của các cổ đông, nổi bật là Friedman (1970) đã tranh luận rằng mỗi doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào phát triển kinh tế trong lĩnh vực hoạt động của họ, TNXH thể hiện qua việc tối đa hóa lợi nhuận, sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách hiệu quả. Việc các nhà quản lý sử dụng nguồn lực vào các hoạt động xã hội được xem như ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và tạo áp lực với những khoản thuế bất hợp pháp.

Trái ngược với lập luận của Friedman, Carroll (1979) tiếp sau đó là Freeman (1984, 2010) lại cho rằng doanh nghiệp ngoài việc đảm bảo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông, cần quan tâm đến quyền lợi của các bên liên quan như khách hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư… Theo định nghĩa của Carroll (1979), TNXH được hiểu theo trách nhiệm của doanh nghiệp, tức là những mong đợi, nghĩa vụ mà xã hội đặt ra cho doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Trách nhiệm bao gồm những khía cạnh về kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện. Caroll (1979) đã xác định mô hình hình tháp về TNXH bao gồm 04 cấp bậc: - Trách nhiệm kinh tế: công ty có trách nhiệm cung cấp những sản phẩm và dịch vụ mà xã hội cần để đạt được mục tiêu lợi nhuận. Trách nhiệm kinh tế thể hiện qua hiệu quả tăng trưởng, mục tiêu thành lập doanh nghiệp là lợi nhuận nhưng không phải giành được bằng mọi cách.

Việc đạt được mục tiêu kinh tế, mang lại của cải cho xã hội được xem như một hình thức thực hiện TNXH của doanh nghiệp. Các trách nhiệm khác của doanh nghiệp đều dựa trên trách nhiệm kinh tế; - Trách nhiệm pháp lý: các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động phải tuân thủ luật pháp; Nhà nước có trách nhiệm luật hóa các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi ở họ. - Trách nhiệm đạo đức: là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được luật hóa vào văn bản luật. Doanh nghiệp hoạt động có trách nhiệm đạo đức là làm đúng, chính đáng, đảm bảo công bằng.

Những điều này thể hiện ở văn hóa 11 doanh nghiệp, các quy tắc ứng xử với các bên liên quan như người lao động, nhà đầu tư, đối tác, người tiêu dùng. - Trách nhiệm tình nguyện: những hoạt động từ thiện vì cộng đồng, đó không chỉ là những hoạt động mang tính từ thiện mà đòi hỏi có những hoạt động góp phần giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực… Hình 1. Mô hình thể hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Nguồn: Carroll (1979), Hemphill (2004) và Windsor (2001) Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản, không thể thiếu của TNXH doanh nghiệp. Một số bài báo và nghiên cứu đã sử dụng định nghĩa của Carroll (1979) để phân tích về TNXH như Sheth & Babiak (2010); Wagner (2018).

Ngoài việc xác định nghĩa vụ của công ty đối với xã hội, định nghĩa này đưa ra sự phân biệt một cách có hệ thống trách nhiệm của công ty từ việc chỉ tạo ra lợi nhuận cho đến thực hiện trách nhiệm xã hội (Chen, Chang, & Lin, 2012). Tuy nhiên, trong định nghĩa của Carroll (1979), các nội dung, khía cạnh hay các đối tượng có liên quan TNXH chưa được bàn luận. 12 Phát triển một khái niệm rộng hơn của Carroll (1979), Chính phủ Anh (2001) đã cho rằng khi khu vực kinh tế tư nhân có lợi ích thương mại rộng hơn, nó phải quản lý tác động của nó đối với xã hội và môi trường theo nghĩa rộng nhất. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tương tác và thiết lập mối quan hệ với các bên liên quan, có thể là nhân viên, khách hàng, nhà đầu tư, nhà cung cấp hoặc cộng đồng (Carroll, 2015).

TNXH hơn cả những nghĩa vụ pháp lý, đó là sự tự nguyện thực hiện các trách nhiệm tùy theo ưu tiên và quan tâm của từng doanh nghiệp trong từng lĩnh vực. Cùng quan điểm đó, theo một công bố của Uỷ Ban Cộng đồng Châu Âu (2002) và Chandler (2016) cho rằng TNXH là những hành động vượt lên trên nghĩa vụ pháp lý hoặc mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là tạo ra giá trị cho cộng đồng. Đó là trách nhiệm đối với những vấn đề rộng lớn hơn việc kinh doanh liên quan đến môi trường và xã hội (Villena & cộng sự, 2021). Trách nhiệm đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp hướng tới sự phát triển bền vững trên cả ba khía cạnh kinh tế, môi trường và xã hội (Carroll, 2015; Clark & cộng sự, 2016; Agudelo, 2019).

Tóm lại, TNXH được hiểu là việc thực hiện trách nhiệm của doanh nghiệp trên cơ sở phải tôn trọng pháp luật và cam kết với các bên có lợi ích liên quan, có khả năng gắn kết hoạt động kinh doanh với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đạo đức, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền con người và đáp ứng các mối quan tâm của khách hàng, nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của các chủ sở hữu doanh nghiệp, bên có liên quan và toàn xã hội, xác định rõ, ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực có thể từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Nội dung của trách nhiệm xã hội Theo các định nghĩa về TNXH doanh nghiệp, có thể hiểu đó là những trách nhiệm về kinh tế, đạo đức, pháp lý và từ thiện (Caroll, 1979; 2015). TNXH là một khái niệm đa chiều, liên quan đến nhiều nội dung, hoạt động khác nhau của doanh nghiệp nhằm thực hiện các trách nhiệm khác nhau. Trong một phân tích 37 định nghĩa TNXH của Dahlsrud (2008) và nghiên cứu tổng hợp của Agudelo (2019), các khía cạnh của TNXH doanh nghiệp thường liên quan đến các khía cạnh kinh tế, môi trường, xã hội, các bên có liên quan và sự tự nguyện.

Đối với quy định về báo cáo 13 trách nhiệm xã hội thế giới (GRI) lại tổng hợp các khía cạnh của TNXH trong 03 nội dung chính là kinh tế, môi trường và xã hội. Quan điểm của GRI thống nhất với các khái niệm phát triển bền vững. Các nội dung của TNXH được tổng hợp trong Phụ lục 1. Như vậy, các khía cạnh trong nội dung của TNXH có thể hiểu ngắn gọn như sau: - Khía cạnh kinh tế: là trách nhiệm của doanh nghiệp vượt lên trên mục tiêu duy nhất là mang lại lợi nhuận cho cổ đông (Vermeulen, 2018) mà còn là chia sẻ và tạo ra giá trị cho xã hội (Porter & Kramer, 2011).

Đó có thể là những hành động giúp hạn chế rủi ro và cơ hội từ biến đổi khí hậu đối với hoạt động kinh doanh, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, đóng góp cho kinh tế địa phương, những hỗ trợ từ chính quyền, chất lượng sản phẩm, thông tin rõ ràng đến khách hàng (GRI 4). - Khía cạnh môi trường: trách nhiệm của doanh nghiệp ở khía cạnh môi trường thể hiện qua việc gìn giữ sự ổn định và lâu dài cho cuộc sống của con người vì thế được xem là một cách để thực hiện TNXH (Kates, 2015). Trách nhiệm thể hiện qua việc bảo vệ môi trường, xử lý nước thải, sử dụng nguyên vật liệu, năng lượng, nguồn nước (GRI 4). Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể nguồn lực và thời gian để trở thành mô hình kinh doanh “xanh” trong ngành của mình, thực hiện mô hình kinh doanh có trách nhiệm với môi trường và thu được những lợi ích lâu dài (Kabir & cộng sự, 2007).

- Khía cạnh xã hội: trách nhiệm của doanh nghiệp ở nội dung xã hội được nhận định theo nhiều quan điểm khác nhau (Missimer & cộng sự, 2016). Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, TNXH doanh nghiệp được hiểu bao gồm việc thực hiện trách nhiệm liên quan đến các hoạt động cộng đồng, từ thiện, sự hài lòng của người lao động (Harangozo và cộng sự, 2018), mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động, nhà cung cấp (GRI 4). Đo lường trách nhiệm xã hội (Corporate social performance) Việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp thường mang tính tự nguyện, tuy nhiên mỗi doanh nghiệp đều có mục tiêu riêng khi tham gia thực hiện TNXH. Vì vậy, 14 một vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm khi thực hiện TNXH là đánh giá việc thực hiện những hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội.

Trong các nghiên cứu trước đây, các phương pháp để đo lường TNXH được sử dụng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, TNXH được đo lường bằng ba phương pháp chính: đánh giá hoạt động thể hiện TNXH, đánh giá theo chỉ số danh tiếng, đánh giá theo chỉ số mức độ công bố thông tin TNXH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tác Động Của Trách Nhiệm Xã Hội Đến Thành Quả Hoạt Động Doanh Nghiệp Tại Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu phân tích mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc thực hiện CSR không chỉ nâng cao hình ảnh thương hiệu mà còn góp phần cải thiện hiệu suất tài chính và tạo dựng lòng tin từ khách hàng, đối tác. Đặc biệt, tài liệu nhấn mạnh vai trò của CSR trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang hướng tới phát triển bền vững, đồng thời cung cấp các khuyến nghị thiết thực để doanh nghiệp áp dụng hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến quản lý và phát triển bền vững, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ kinh tế vai trò của ktnn trong việc quản lý nợ công ở việt nam, nghiên cứu về tác động của nợ công đến nền kinh tế. Ngoài ra, Luận văn tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại việt nam cung cấp góc nhìn chi tiết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Cuối cùng, Luận án ts phân tích chuỗi giá trị và hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi cá tra ở đồng bằng sông cửu long sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp bền vững.

Các tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mang đến góc nhìn đa chiều về các vấn đề kinh tế và xã hội tại Việt Nam.