Luận văn thạc sĩ ueh tác động tương đối của tăng trưởng kinh tế của mỹ và trung quốc lên các quốc gia trong khu vực châu á thái bình dương

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ueh tác động tương đối của tăng trưởng kinh tế của mỹ và trung quốc lên các quốc gia trong khu vực, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2016

83
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.6. Kết cấu của đề tài

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Phương pháp nghiên cứu

3.2. Mô hình hệ phương trình đồng thời trên dữ liệu bảng PVAR

3.3. Các dạng mô hình PVAR

3.3.1. Mô hình PVAR dạng cấu trúc

3.3.2. Mô hình PVAR dạng rút rọn hay dạng tiêu chuẩn

3.4. Ứng dụng của mô hình VAR

3.5. Ưu điểm của tiếp cận nghiên cứu trên dữ liệu bảng

3.6. Mô hình nghiên cứu thực nghiệm bài nghiên cứu

3.7. Dữ liệu nghiên cứu

3.8. Thực trạng vấn đề nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Phân tích thống kê mô tả

4.2. Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng Fisher (Choi 2001)

4.3. Độ trễ tối đa cho mô hình PSVAR

4.4. Kiểm định nhân quả Granger test

4.5. Kiểm định tính ổn định mô hình

4.6. Kết quả ước lượng mô hình SVAR

4.6.1. Hàm phản ứng xung (impulse response)

4.6.2. Phân rã phương sai (Variance decomposition)

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Kết luận về kết quả nghiên cứu

5.2. Gợi ý chính sách

5.3. Hạn chế đề tài

5.4. Hướng mở rộng đề tài

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC ĐỊNH LƯỢNG

Tóm tắt

I. Tác động của tăng trưởng kinh tế Mỹ đến các quốc gia châu Á Thái Bình Dương

Tăng trưởng kinh tế của Mỹ có ảnh hưởng sâu rộng đến các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Sự biến động trong nền kinh tế Mỹ không chỉ tác động đến thương mại mà còn ảnh hưởng đến các yếu tố vĩ mô như GDP, lạm phát và tỷ giá hối đoái. Các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia thường xuyên điều chỉnh chính sách kinh tế của mình để thích ứng với những thay đổi từ Mỹ. Theo báo cáo của IMF, một cú sốc trong tăng trưởng GDP của Mỹ có thể làm tăng trưởng GDP của các quốc gia châu Á Thái Bình Dương tăng thêm 0.1%.

1.1. Tác động đến thương mại và đầu tư

Tăng trưởng kinh tế Mỹ thúc đẩy nhu cầu hàng hóa từ các quốc gia châu Á Thái Bình Dương. Các quốc gia như Việt Nam và Thái Lan đã thấy sự gia tăng xuất khẩu sang Mỹ. Đầu tư từ Mỹ vào khu vực này cũng tăng mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ và sản xuất.

1.2. Ảnh hưởng đến chính sách kinh tế

Các quốc gia châu Á Thái Bình Dương thường điều chỉnh chính sách kinh tế của mình để phản ứng với các thay đổi trong nền kinh tế Mỹ. Điều này bao gồm việc thay đổi lãi suất và tỷ giá hối đoái để duy trì tính cạnh tranh trong thương mại.

II. Tác động của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến các quốc gia châu Á Thái Bình Dương

Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã tạo ra một làn sóng thương mại mạnh mẽ trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Nhu cầu từ Trung Quốc đối với hàng hóa và dịch vụ đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho nhiều quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, sự chậm lại trong tăng trưởng của Trung Quốc cũng đã gây ra những thách thức lớn cho các quốc gia này.

2.1. Tác động đến xuất khẩu

Nhiều quốc gia như Malaysia và Indonesia đã phụ thuộc vào xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc. Sự giảm tốc trong tăng trưởng của Trung Quốc đã dẫn đến giảm nhu cầu, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế của các quốc gia này.

2.2. Ảnh hưởng đến đầu tư

Trung Quốc đã trở thành một trong những nhà đầu tư lớn nhất vào khu vực châu Á Thái Bình Dương. Tuy nhiên, sự không chắc chắn trong chính sách kinh tế của Trung Quốc có thể làm giảm sự hấp dẫn của khu vực này đối với các nhà đầu tư.

III. Vấn đề và thách thức từ tăng trưởng kinh tế Mỹ và Trung Quốc

Mặc dù tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Trung Quốc mang lại nhiều cơ hội cho các quốc gia châu Á Thái Bình Dương, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức. Các quốc gia này cần phải đối mặt với sự biến động trong chính sách thương mại và đầu tư từ hai cường quốc này.

3.1. Biến động trong chính sách thương mại

Sự thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ và Trung Quốc có thể gây ra những tác động lớn đến nền kinh tế của các quốc gia châu Á Thái Bình Dương. Các quốc gia này cần phải chuẩn bị cho những thay đổi này để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình.

3.2. Tác động đến ổn định kinh tế

Sự phụ thuộc vào tăng trưởng của Mỹ và Trung Quốc có thể làm cho các quốc gia châu Á Thái Bình Dương trở nên dễ bị tổn thương trước những cú sốc kinh tế. Điều này đòi hỏi các quốc gia này phải đa dạng hóa nền kinh tế của mình.

IV. Phương pháp nghiên cứu tác động kinh tế

Để phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế Mỹ và Trung Quốc đến các quốc gia châu Á Thái Bình Dương, nghiên cứu sử dụng mô hình SVAR (Structural Vector Autoregression). Mô hình này cho phép đánh giá mối quan hệ giữa các biến số kinh tế và xác định tác động của cú sốc từ hai nền kinh tế lớn.

4.1. Mô hình SVAR

Mô hình SVAR được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP, lạm phát và tỷ giá hối đoái. Mô hình này giúp xác định cách mà các cú sốc từ Mỹ và Trung Quốc ảnh hưởng đến các quốc gia châu Á Thái Bình Dương.

4.2. Dữ liệu và phương pháp phân tích

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ IMF và Ngân hàng Thế giới để phân tích các biến số kinh tế trong giai đoạn từ 1991 đến 2015. Phân tích được thực hiện bằng phần mềm Eviews và Stata.

V. Kết luận và triển vọng tương lai

Tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp tục có tác động lớn đến các quốc gia châu Á Thái Bình Dương trong tương lai. Các quốc gia này cần phải chuẩn bị cho những thay đổi trong chính sách kinh tế và thương mại để duy trì sự phát triển bền vững.

5.1. Triển vọng phát triển

Các quốc gia châu Á Thái Bình Dương cần phải tìm kiếm các cơ hội mới trong bối cảnh thay đổi của nền kinh tế toàn cầu. Điều này bao gồm việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư từ các nguồn khác nhau.

5.2. Đề xuất chính sách

Chính phủ các quốc gia trong khu vực cần phải xây dựng các chính sách kinh tế linh hoạt để ứng phó với những biến động từ Mỹ và Trung Quốc. Điều này sẽ giúp bảo vệ nền kinh tế và tạo ra cơ hội phát triển bền vững.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh tác động tương đối của tăng trưởng kinh tế của mỹ và trung quốc lên các quốc gia trong khu vực châu á thái bình dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 - Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2 - Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây.

Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này tác giả sẽ làm rõ mô hình thực nghiệm, hàm hồi quy, danh sách các biến, nguồn dữ liệu và phương pháp ước lượng. Chương 4 - Nội dung và kết quả nghiên cứu. Trong chương này tác giả phân tích thống kê mô tả, kiểm định tính dừng, đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan và phân tích hồi quy.

Chương 5 - Kết luận. Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Có vẻ như đã đến lúc, cuộc cạnh tranh giành vị trí có ảnh hưởng quyết định về kinh tế tại các nước Châu Á Thái Bình Dương đang đi đến hồi kết. Nếu thông qua các chỉ số về quan hệ kinh tế, đầu tư và thương mại giữa các quốc gia trong khu vực với hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc, thì cũng có thể có một khái niệm cơ bản về tầm ảnh hưởng của hai cường quốc kinh tế này tại châu Á Thái Bình Dương.

Theo đó, Trung Quốc chiếm ưu thế về thương mại khi đang giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất đặc biệt là đối với các quốc gia xuất khẩu nhỏ. Tuy nhiên Mỹ lại chiếm ưu thế tuyệt đối về đầu tư, khi châu Á Thái Bình Dương là khu vực nhận được nhiều đầu tư nhất của các tập đoàn và doanh nghiệp Mỹ trên khắp thế giới. Trong khi đó, mức đầu tư của Trung Quốc vào khu vực thì thấp hơn rất nhiều so với mức đầu tư của các doanh nghiệp nước này vào các thị trường trọng điểm như Mỹ hay châu Âu. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, về lâu dài thì tình trạng hiện tại sẽ thay đổi theo hướng tăng ảnh hưởng kinh tế của Mỹ tại các nước này, trong khi ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ giảm đi.

Việc Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của các nước nhỏ trong vài năm trở lại đây là kết quả của việc nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nóng, dẫn đến tăng cường nhập khẩu rất nhiều năng lượng, vật liệu và hàng hóa từ các nước trên thế giới, trong đó các quốc gia ASEAN chiếm một tỷ lệ quan trọng. Ngoài việc xuất khẩu năng lượng và nguyên vật liệu thô sang Trung Quốc thì khá nhiều các nước này cũng điều chỉnh lại xuất khẩu của mình để tận dụng tối đa sự tăng trưởng nóng của kinh tế Trung Quốc. Nó dẫn đến kết quả lượng trao đổi thương mại với Trung Quốc tăng vọt trong một thời gian ngắn. Vì thế, khi mà kinh tế Trung Quốc bắt đầu tăng trưởng chậm lại và nhu cầu nhập khẩu giảm hẳn, thì LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 điều tất yếu là tỷ trọng trao đổi thương mại cũng giảm đi.

Việc một loạt các quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines hay Malaysia tăng trưởng chậm hẳn trong năm 2015 là một dẫn chứng, khi hầu hết các nước này rơi vào tình trạng giảm xuất khẩu trầm trọng do bị tác động từ sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc. Nói cách khác, sự tăng vọt trong trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các quốc gia xuất khẩu nhỏ chỉ mang tính ngắn hạn, và xuất phát từ nhu cầu bộc phát về phát triển của Trung Quốc thay vì một quan hệ kinh tế vững chắc và ổn định lâu dài. So sánh về mức độ đầu tư có quy mô lớn, bài bản và lâu dài tại các nước này, thì rõ ràng Trung Quốc không thể so sánh với Mỹ. Nhưng với một loạt các hiệp định thương mại vừa ký kết trong khu vực, cùng với dự báo trong tương lai châu Á Thái Bình Dương sẽ là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, thì điều này chắc chắn sẽ có sự thay đổi lớn.

Nhưng, quan trọng hơn, điều mà chính phủ Mỹ hướng tới trong mối quan hệ kinh tế không phải là các con số thương mại như Trung Quốc, mà Washington quan tâm đến việc đặt ra luật chơi về kinh tế tại khu vực này, một điều sẽ nâng cao ảnh hưởng về kinh tế của Mỹ tại Châu Á Thái Bình Dương lên mức lớn nhất có thể, đồng thời làm giảm ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc tại khu vực này nhất có thể. Dễ dàng nhận ra điều này khi quan sát các quy định quan trọng nhất mà Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đặt ra. Ngoài việc thúc đẩy hơn nữa quy mô trao đổi thương mại giữa các nước thành viên thì vấn đề quan trọng nhất của TPP là thiết lập một loạt các tiêu chuẩn về sản xuất và thương mại, và các tiêu chuẩn này được đánh giá là ở một mức rất cao mà các doanh nghiệp Trung Quốc khó có thể đạt tới. Điều này có nghĩa, khi TPP đi vào hoạt động, thì các nền kinh tế trong khu vực Thái Bình Dương sẽ vận hành với các tiêu chuẩn cao hơn Trung Quốc rất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 nhiều, và có tính tương tác tốt hơn với nền kinh tế Mỹ vốn rất phát triển thay vì với nền kinh tế Trung Quốc vẫn được đánh giá là lạc hậu và vẫn sử dụng các tiêu chuẩn tương đối thấp.

Trong bối cảnh đó, hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ - ASEAN diễn ra vào giữa tháng 2.2016 tại Sunnylands (Mỹ) sẽ tạo điều kiện tối đa cho ba nền kinh tế Thái Lan, Indonesia và Philippines gia nhập TPP trong thời gian sớm nhất khi mà các nước này cũng tỏ ý muốn gia nhập. Một khi Thái Lan, Indonesia và Philippines cũng gia nhập TPP, thì câu chuyện ảnh hưởng của Mỹ hay Trung Quốc đối với các quốc gia ở khu vực châu Á Thái Bình Dương lớn hơn cũng sáng tỏ. Trong quá trình nghiên cứu các học thuyết có liên quan, tác giả nhận thấy không có các học thuyết trước tác đông của nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc đến các yếu tố vĩ mô của các quốc gia châu Á Thái Bình Dương. Lý do là việc nghiên cứu tầm ảnh hưởng của quốc gia này đến quốc gia khác trong điều kiện nền kinh tế thế giới không ngừng mở rộng là một đề tài khá mới và chỉ mới được nghiên cứu trong những năm gần đây, khác với các học thuyết tăng trưởng chủ yếu xem xét đến các yếu tố trong cùng một quốc gia.

Một số bài nghiên cứu có liên quan cũng không đề cập đến các học thuyết kinh tế. Do đó, tác giả chủ yếu trình bày các nghiên cứu dưới dạng bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố này ảnh hưởng đến các quốc gia khác. Các bài nghiên cứu trước đây nghiên cứu ảnh hưởng của Mỹ hoặc Trung Quốc ảnh hưởng tới một số quốc gia/khu vực như Úc, New Zealand, OCED, các khu vực trên thế giới trong nhiều giai đoạn. Các nghiên cứu trên thế giới cho ra các kết quả đa chiều vì mẫu dữ liệu và biến số vĩ mô cũng như việc lựa chọn các cú sốc tác động khác nhau.

Malory Greene, Nora Dihel, Przemyslaw Kowalski và Douglas Lippoldt (2006) định lượng tác động của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới. Ước tính dựa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 trên mô hình cân bằng tổng thể, FTAP. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động khá hạn chế lên các quốc gia thuộc nền kinh tế OECD. Cơ cấu thương mại song phương giữa Trung Quốc và cá nhân của nền kinh tế OECD phản ánh các hình thức khác nhau của lợi thế so sánh cũng như sự khác biệt về cấu trúc của các rào cản thương mại và vị trí địa lý.

Việc Trung Quốc gia nhập WTO cùng các cam kết được dự đoán sẽ dẫn đến các tác động không đồng nhất vào các thành viên OECD. Tác động trực tiếp nhất là hiệu suất xuất khẩu của các nước OECD đã được giao dịch hoặc đầu tư mạnh mẽ ở Trung Quốc nhưng vẫn phải đối mặt rào cản thị trường. Mô hình thương mại quan sát cho thấy rằng tác động có thể quan trọng hơn đối với Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand. Paul Conway (1998), sử dụng mô hình SVAR đối với dữ liệu theo quý từ 1985 tới 1996 nhằm phân tích tác động biến đổi trong kinh tế vĩ mô New Zealand với các cú sốc đầu tư nước ngoài.

Các cú sốc này đã làm thay đổi nền kinh tế của New Zealand, nền kinh tế trở nên cởi mở hơn sau năm 1985, gia tăng việc thuê mướn nhân công lao động và thay đổi chu kỳ kinh tế. Lãi suất thực trong nước phản ứng không rõ trong dài hạn, tuy nhiên sau khi bãi bỏ quy định tài chính vào giữa những năm 1980, lãi suất thực trong nước phản ứng với tác động từ các cú sốc lãi suất toàn cầu. Trong nghiên cứu của Ben Hunt (2010), mô hình kinh tế toàn cầu của IMF (GEM) được sử dụng để ước tính ảnh hưởng khác biệt giữa tốc độ tăng trưởng của các quốc gia mới nổi châu Á lên Úc. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 25% tăng trưởng của Australia trong thập kỷ qua đã được giải thích từ tăng trưởng của các quốc gia châu Á mới nổi trong giai đoạn nghiên cứu.

Sun (2011) sử dụng phương pháp vector tự hồi quy (VAR) và thấy rằng, trong một thập kỷ qua, những cú sốc từ các quốc gia mới nổi châu Á vượt qua Hoa Kỳ thông qua việc nghiên cứu các yếu tố ngoại sinh quan trọng nhất ảnh hưởng đến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 chu kỳ kinh tế của Úc. Đối với thời kỳ mẫu toàn bộ 1991-2010, cú sốc 1 phần trăm trong GDP của Mỹ được tìm thấy tác động tới tăng trưởng Úc khoảng 0,4 phần trăm. Ngược lại, những cú sốc từ các nước Châu Á mới nổi có tác động gần như không đáng kể lên tăng trưởng Úc. Kết quả này thay đổi đáng kể khi giới hạn kích thước mẫu để 2000-10.

Một phần trăm cú sốc đối với tăng trưởng của các quốc gia mới nổi châu Á tác động tới tăng trưởng Úc ⅓ phần trăm, trong khi các tác động của các cú sốc của Hoa Kỳ vào Úc không có ý nghĩa thống kê.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ