Mở đầu Phần 2: Trình bày các nghiên cứu trước đây làm nền tảng cho nghiên cứu. Phần 3: Trình bày dữ liệu nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu. Phần 4: Kết quả nghiên cứu. Phần 5: Kết luận, và hạn chế của đề tài.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Những nghiên cứu trước đây về mối tương quan giữa sự thay đổi công ty kiểm toán và tình hình tài chính của doanh nghiệp: Huson Joher, M. Sau khi nghiên cứu hai nhóm trước và sau khi thay đổi trong 5 năm thì tác giả cũng đã đưa ra được một số kết quả khác nhau đối với mỗi chỉ số tài chính khác nhau như: ROA nhóm doanh nghiệp có thay đổi công ty kiểm toán kiếm được tỷ suất sinh lời trên tài sản thấp hơn so với nhóm không thay đổi (3,4% so với 5,1%). Tuy nhiên, sự khác biệt trên là không có ý nghĩa thống kê.
ACQ của những công ty thay đổi kiểm toán thì cao hơn nhóm còn lại (7,5% so với 6,5%). SIZE, LIQ, Leverage thì không có khác biệt lớn và không có nhiều ý nghĩa. Sự thay đổi trong quản trị, và sự tăng trưởng trong doanh thu có ý nghĩa lớn trong quyết định thay đổi công ty kiểm toán. Tiếp đó, tác giả phân chia thành các nhóm nhỏ là công ty kiểm toán có thương hiệu Big 5 và công ty kiểm toán thường, có 4 sự thay đổi tương ứng: Thay đổi công ty kiểm toán thường với nhau.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. 6 Thay đổi từ công ty kiểm toán thường lên nhóm Big 5. Thay đổi công ty kiểm toán Big 5 xuống nhóm thường. Thay đổi công ty kiểm toán Big 5 với nhau.
(Tier 1: Big 5) Kiểm định của tác giả cũng đã cho thấy giá chứng khoán của doanh nghiệp thay đổi có ý nghĩa trong khoảng thời gian 10 ngày, 60 ngày trước và sau ngày công bố báo cáo kiểm toán có sự thay đổi công ty kiểm toán. Có sự thay đổi lớn với mức ý nghĩa 10% với các nhóm ở một số ngày giao dịch như: nhóm 2 – 1: ngày -60 đến -8, -8 đến -1, nhóm 1 – 2 : là ngày -8 đến -1 , nhóm 1 – 1 là ngày 8, nhóm 2 – 2 là ngày 3. Có sự thay đổi lớn với mức ý nghĩa 5% với các nhóm ở một số ngày giao dịch như: nhóm 2 – 1 ngày -8, -4, -2, 6 Kam C. Chan, Barbara Farrell, Patricia Healy and Picheng Lee (2011) trong nghiên cứu “Firm Performance Following Auditor Changes For Audit Fee Savings”, đã cho thấy giá chứng khoán và thu nhập thực tế sau thuế có quan hệ đồng biến với thay đổi kiểm toán viên.
Và không có sự thay đổi đáng kể nào trong hoạt động công ty với các dạng thay đổi công ty kiểm toán khi phân nhóm Big 4 và Non – Big 4 để nghiên cứu. Sự đồng biến giữa hoạt động của công ty và thay đổi công ty kiểm toán thể hiện rõ nhất là trước 2003. Agnes Cheng , Kenneth J. Reichelt (2009) trong nghiên cứu “Market Reaction to Auditor Switching from Big Four to Smaller Accounting Firms” đã xem xét từ 2002 đến 2006 bằng phương pháp phân 2 nhóm là công ty kiểm toán lớn(Big 4) và nhóm những công ty kiểm toán nhỏ, và một nhóm trung bình là 2 công ty Grant Thornton và BDO Seidman, trong 2 kỳ là trước và sau đạo luật Sarbanes-Oxley được ban hành.
Tác giả cũng đã tìm thấy mối quan hệ đồng biến của giá chứng khoán của những doanh nghiệp chuyển công ty kiểm toán từ nhóm Big 4 xuống công ty kiểm toán nhỏ trong thời kỳ thứ 2. Điều này phản ánh việc các doanh nghiệp tìm kiếm dịch vụ tốt hơn chứ không phải tìm kiếm chi phí kiểm toán thấp hơn trong khi chất lượng kiểm toán không (LUAN. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhìn chung, kết quả của tác giả đã cho thấy các công ty và nhà đầu tư đã dễ dàng chấp nhận những công ty kiểm toán nhỏ hơn.
Arezoo Aghaei chadegani, Zakiah Muhammaddun Mohamed and Azam Jari (2011) trong nghiên cứu “The Determinant Factors of Auditor Switch among Companies Listed on Tehran Stock Exchange” đã xem xét 182 doanh nghiệp trên sàn chứng khoán Tehran, với 91 doanh nghiệp có thay đổi công ty kiểm toán và 91 doanh nghiệp không thay đổi công ty kiểm toán. Tác giả đã tìm thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa quy mô doanh nghiệp kiểm toán và sự thay đổi công ty kiểm toán, trong khi tình trạng kiệt quệ tài chính và sự thay đổi trong quản lý doanh nghiệp thì đồng biến. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng khẳng định không có mối quan hệ giữa chất lượng của ý kiến kiểm toán với sự thay đổi công ty kiểm toán. Eko Suyono, Feng Yi and Riswan (2013) trong nghiên cứu “Determinant Factors Affecting The Auditor Switching: An Indonesian Case” đã xem xét tại thị trường chứng khoán Indonesian với cách nghiên cứu là phát 136 phiếu câu hỏi điều tra và có 45 bảng câu hỏi trả về từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2012 cùng mô hình nghiên cứu là hồi quy đa biến.
Kết quả cho thấy rằng tình hình tài chính của doanh nghiệp, sự cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán và kỳ kiểm toán có mối quan hệ đồng biến với sự thay đổi công ty kiểm toán. Trong khi, phí kiểm toán và quy mô công ty kiểm toán thì không có mối quan hệ với sự thay đổi công ty kiểm toán. Greg Burton, Anastasia Maggina (2012) trong bài nghiên cứu “ Auditor Switching In The Economic Crisis: The Case In Greece” sử dụng phương pháp hồi quy để phân tích các doanh nghiệp có thay đổi công ty kiểm toán trên sàn chứng khoán Athens. Kết quả cho thấy chỉ số tài chính như vốn hoạt động trên tổng tài sản (working capital/ total asset) đồng biến với sự thay đổi công ty kiểm toán, còn các chỉ số khác ROA, vốn chủ sở hữu trên tổng (LUAN.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. 8 nợ (equity /total debt), tăng trưởng trung bình trên tổng tài sản thì đồng biến trong năm 1, năm 2 trước khi thay đổi công ty kiểm toán.2 Các nghiên cứu trước đây về sự ảnh hưởng của sự thay đổi công ty kiểm toán đến giá chứng khoán của doanh nghiệp. Ariff (2000) khi nghiên cứu “ Auditor Switch Decision of Malaysian Listed Firms: Tests of Determinants and Wealth Effect” đã phân chia thành các nhóm là công ty kiểm toán có thương hiệu Big 5 và công ty kiểm toán thường, có 4 sự thay đổi tương ứng: Thay đổi công ty kiểm toán Big 5 với nhau. (Tier 1: Big 5) Thay đổi công ty kiểm toán thường với nhau.
(Tier 2: non Big 5) Thay đổi từ công ty kiểm toán thường lên nhóm Big 5. Thay đổi công ty kiểm toán Big 5 xuống nhóm thường. Kiểm định của tác giả cũng đã cho thấy giá chứng khoán của doanh nghiệp thay đổi có ý nghĩa trong khoảng thời gian 10 ngày, 60 ngày trước và sau ngày công bố báo cáo kiểm toán có sự thay đổi công ty kiểm toán. Có sự thay đổi lớn với mức ý nghĩa 10% với các nhóm ở một số ngày giao dịch như: nhóm 2 – 1: ngày -60 đến -8, -8 đến -1, nhóm 1 – 2 : là ngày -8 đến -1 , nhóm 1 – 1 là ngày 8, nhóm 2 – 2 là ngày 3.
Có sự thay đổi lớn với mức ý nghĩa 5% với các nhóm ở một số ngày giao dịch như: nhóm 2 lên nhóm 1 ngày -8, -4, -2, 6 Stefan Sundgren, Jyrki Niskanen (2009) trong bài “Audit Reports and Stock Markets” cũng đã xem xét 237 báo cáo kiểm toán và 342 báo cáo kiểm soát nội bộ tìm kiếm bằng chứng về tỷ suất sinh lời bất thường của giá chứng khoán công ty xung quanh ngày ký báo cáo kiểm toán. Kết quả cho thấy không có sự ảnh hưởng có ý nghĩa thông kê nào xung quanh ngày ký báo cáo kiểm toán nhưng có bằng chứng về tăng rủi ro hệ thống sau ngày ký báo cáo kiểm toán. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. 9 Ngoài ra, tác giả còn tìm thấy bằng chứng về thông tin môi trường và chi phí đại diện cho các khoản Nợ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận bất thường.
Ferdinand A Gul, Woo-Jong Lee trong nghiên cứu “The Impact of Mandatory versus Voluntary Auditor Switch on Stock Liquidity in the Korean Market” nghiên cứu các doanh nghiệp tại Hàn Quốc đã cho thấy thanh khoản của cổ phiếu doanh nghiệp không liên quan đến sự thay đổi công ty kiểm toán. Sự tác động nghịch biến của thanh khoản với sự thay đổi công ty kiểm toán tập trung ở những doanh nghiệp trong nhóm sử dụng dịch vụ kiểm toán chất lượng cao xuống dịch vụ kiểm toán chất lượng thấp. Trong khi, các doanh nghiệp được chỉ định kiểm toán thì tính thanh khoản cao hơn và chịu nhiều rủi ro kiểm toán hơn. Vivek Mande and Myungsoo Son (2012) trong nghiên cứu “Do Financial Restatements Lead to Auditor Changes” sử dụng phương pháp thị trường để tính toán tỷ suất lợi nhuận bất thường của cổ phiếu doanh nghiệp (Cumulative abnormal return) trong 3 ngày xung quanh ngày xảy ra sự kiện thay đổi công ty kiểm toán hoặc ngày thay đổi báo cáo tài chính [-1;1].
Và bài nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng của tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu của doanh nghiệp tăng xung quanh ngày xảy ra sự kiện trên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. DỮ LIỆU và PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3. Sử dụng các báo cáo kiểm toán của các công ty trên sàn chứng khoán VN Từ 476 doanh nghiệp có cổ phiếu niêm yết trên hai sàn chứng khoán của Việt Nam là HSX và HNX trong khoảng thời gian từ 2008 đến 2012, bài nghiên cứu này đã thu thập hơn 1939 báo cáo tài chính, tìm tên các công ty kiểm toán của các mã chứng khoán trong các năm từ các website như: http://s.vn http://www.vn http://priceboard.vn/user/stock/thong-ke/ Các trang web của các công ty được niêm yết.
Cách thức chọn và lọc dữ liệu: Bước 1: Xem các báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán của các năm của doanh nghiệp niêm yết trên cả 2 sàn chứng khoán của Việt Nam, thu thập thông tin về công ty kiểm toán. Thực hiện chọn những báo cáo có tên công ty kiểm toán, và loại những báo cáo không có tên công ty kiểm toán. Thông thường trong bộ báo cáo kiểm toán hằng năm có các phần sau thể hiện tên công ty kiểm toán: Phần trang bìa của bộ báo cáo kiểm toán Phần báo cáo của Ban giám đốc, mục kiểm toán viên. Phần báo cáo kiểm toán: mục số báo cáo kiểm toán, hoặc phần ký tên đại diện của công ty kiểm toán.
Phần Thuyết minh báo cáo tài chính: mục số liệu so sánh. Đây là tên công ty kiểm toán trước năm hiện hành.