Chương 1 trình bày sơ lược những thông tin cơ bản của đề tài nghiên cứu. Trong đó bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của luận văn và đóng góp của đề tài. Qua đó giúp người đọc có cái nhìn bao quát về đề tài nghiên cứu, đi vào tìm hiểu cụ thể hơn ở các chương tiếp theo. 1 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU TẬP TRUNG ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH NGÂN HÀNG 2.1 Cơ sở lý thuyết về sở hữu tập trung 2.1 Khái niệm sở hữu tập trung Là một thuật ngữ phổ biến, sở hữu tập trung được sử dụng trong các nghiên cứu khoa học, kinh tế khác nhau.
Theo Pedersen & Thomsen (1999) mức độ tập trung sở hữu thể hiện sự mức độ sở hữu cổ phiếu ngân hàng được nắm trong tay một số cổ đông lớn. Đối với ngân hàng có sở hữu tập trung, quyền kiểm soát cũng tập trung ở một số cổ đông và nhóm liên quan. Họ kiểm soát và chi phối đến cách các ngân hàng hoạt động, họ có thể không sở hữu toàn bộ vốn nhưng có quyền biểu quyết đáng kể. Trong nghiên cứu của Rokwaro (2013) khái niệm mức độ tập trung sở hữu được sử dụng là tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất trong các ngân hàng của Kenya.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ngân hàng càng có mức độ tập trung sở hữu cao, tỷ lệ ROE càng thấp. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Wen (2013) cũng sử dụng mức độ tập trung sở hữu trong các NHTM nhà nước và các NHTM tư nhân của Trung Quốc là tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn nhất. Theo Võ Đại Thành (2021) trong cấu trúc sở hữu tập trung, cả quyền sở hữu lẫn quyền kiểm soát ngân hàng tập trung vào tay một số cá nhân, gia đình, ban quản lý, hoặc các định chế cho vay. Những cá nhân và nhóm này thường kiểm soát và chi phối lớn đến cách thức ngân hàng vận hành.
Bởi vậy, cấu trúc tập trung thường được xem là hệ thống nội bộ. Những cổ đông lớn kiểm soát ngân hàng trực tiếp bằng cách tham gia Hội đồng quản trị và ban điều hành. Cổ đông lớn có thể không sở hữu vốn toàn bộ nhưng họ có quyền biểu quyết đáng kể nên có thể được kiểm soát ngân hàng. Chính vì vậy, theo cách hiểu thông thường, sở hữu tập trung là mức độ dẫn dắt thị trường của các ngân hàng lớn trong hệ thống.2 Phương pháp đo lường sở hữu tập trung Có nhiều phương pháp đo lường mức độ sở hữu tập trung.
Một số nghiên cứu sử dụng tổng tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn nhất. Theo Kim và Rhee (2000) đo lường dựa theo sáu đến mười cổ đông hàng đầu dựa trên tỷ lệ sở hữu của họ, tác giả sử dụng thước đo mức độ tập trung quyền sở hữu sau: LTOP6 = log [TOP6 / (100-TOP6)] TOP6 đại diện cho sự tập trung quyền sở hữu của sáu cổ đông hàng đầu. Hàm log tính toán để tạo một biến phụ thuộc không liên kết. Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu khác đo lường sở hữu tập trung dựa vào tỷ lệ sở hữu cổ đông như nghiên cứu của Kiruri (2013) sử dụng tổng tỷ lệ sở hữu của 5 cổ đông lớn nhất, hoặc tổng tỷ lệ sở hữu của 3 cổ đông lớn nhất theo như Dong và cộng sự (2014), còn đối với nghiên cứu của Agusman và cộng sự (2014); Wen & Jia (2010) chỉ dùng tỷ lệ sở hữu của 01 cổ đông lớn nhất để đại diện cho mức độ sở hữu tập trung.2 Cơ sở lý thuyết về ổn định ngân hàng 2.1 Khái niệm ổn định ngân hàng Ổn định ngân hàng được khái quát dựa trên khái niệm ổn định tài chính.
Hiện nay trên thế giới, có rất nhiều định nghĩa về ổn định tài chính như: Theo Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ thì ổn định hệ thống tài chính có nghĩa là hệ thống các chủ thể -trung gian tài chính, thị trường tài chính và hạ tầng tài chính thực hiện tốt các chức năng của mình, có khả năng chống đỡ được các cú sốc tiềm ẩn. Hay theo Ngân hàng Trung ương Đức, ổn định tài chính là khả năng hệ thống tài chính vận hành tốt các chức năng chính, bất kể trong thời kỳ kinh tế căng thẳng hay đang điều chỉnh cơ cấu nhằm giúp phân bổ hiệu quả nhất các nguồn lực cũng như rủi ro tài chính, tạo được hiệu quả trong nền tảng hạ tầng tài chính. Ngân hàng Trung ương Úc định nghĩa ổn định hệ thống tài chính là một trạng thái các thị trường, trung gian tài chính và hạ tầng tài chính phân bổ tốt các luồng vốn đầu tư và tiết kiệm từ đó thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Đối với Ngân hàng Trung ương Anh, ổn định tài chính là việc thực hiện xác 1 định rủi ro trong hệ thống tài chính từ đó có những hoạt động để giảm thiểu rủi ro.
Ngân hàng Trung ương Châu Âu lại cho rằng ổn định tài chính là một trạng thái mà trong đó hệ thống tài chính gồm: trung gian tài chính, thị trường và hạ tầng tài chính có khả năng chống chịu được cú sốc và những rủi ro bắt nguồn từ sự mất cân đối tài chính, từ đó giảm bớt nguy cơ sụp đổ của các trung gian tài chính vốn có tác động tiêu cực đối với việc phân bổ tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho rằng một hệ thống tài chính an toàn, ổn định khi nó có thể trụ vững trước những biến động bất thường, không ổn định của nền kinh tế, các cú sốc về tài chính phát sinh từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống. Crockett (1997) đã xác định sự ổn định trong lĩnh vực ngân hàng (bank sector) có liên quan đến việc không có sự căng thẳng tài chính (financial stress), lý do có thể dẫn đến tổn thất ở các ngân hàng lớn hơn thậm chí là do sự phá sản ở các ngân hàng nhỏ hơn, do đó, các ngân hàng có tình hình tài chính ổn định nhất có thể đáp ứng các nghĩa vụ của họ mà không cần sự hỗ trợ từ bên ngoài. Ổn định trong hệ thống ngân hàng hay còn gọi là ổn định ngân hàng có thể hiểu là không có khủng hoảng ngân hàng, đạt được thông qua sự ổn định của tất cả các ngân hàng trong hệ thống hoặc lĩnh vực ngân hàng (Brunnermeier và cộng sự 2009).
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Quỳnh (2021) ổn định ngân hàng được cho là trạng thái mà các ngân hàng có thể vận hành một cách trôi chảy, thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và các chức năng khác theo yêu cầu. Đồng thời có khả năng chịu được các cú sốc từ môi trường bên ngoài và bản thân chính ngân hàng không gây ra các cú sốc ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, từ đó góp phần tác động tích cực trong công tác phát triển hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế một quốc gia. Như vậy, thông qua các nghiên cứu cũng như định nghĩa của các nhà kinh tế học, khái niệm về ổn định ngân hàng có thể được hiểu là khi ngân hàng hoạt động có hiệu quả, có khả năng ứng biến, đối mặt tốt với những tác động trong và ngoài, ở hiện tại cũng như trong tương lai, đặc biệt là khi nền kinh tế xảy ra các cú sốc mà ngân hàng vẫn duy trì được khả năng thanh toán cho các khoản nợ đến hạn, duy trì hoạt động một cách bình thường.2 Phương pháp đo lường ổn định ngân hàng Ở một số nghiên cứu trên thế giới đã đề xuất một vài cách đo lường sự ổn định hệ thống ngân hàng thông qua biến động của lợi nhuận, hay biến động của tiền gửi để xem xét đo lường, đánh giá sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Đo lường sự ổn định ngân hàng thông qua chỉ số Zscore là một trong những phương pháp phổ biến.
Chỉ số này được đặt nền móng đầu tiên bởi Altman vào năm 1968 và từ những năm 1990 được chú ý đến nhiều hơn (Altman, 2000). Boyd & Runkle (1993) đã đề xuất công thức tính như sau: 𝑘 𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟 +𝜇 𝑒= 𝜎 Trong đó: k: (tổng vốn chủ sở hữu và các khoản dự trữ)/ tổng tài sản μ: lợi nhuận trung bình/tổng tài sản σ: độ lệch chuẩn của lợi nhuận/tổng tài sản. Chỉ số này đại diện cho mức biến động lợi nhuận của ngân hàng. Sau này, các tác giả đã phát triển công thức và sử dụng chỉ số Zscore theo công thức tính toán sau: 𝑅𝑂𝐴𝑖𝑡 + 𝐸𝑄𝐴𝑖𝑡 𝑍𝑠𝑐𝑜𝑟𝑒𝑖 𝜎𝑅𝑂 𝑖𝑡 𝑡 = 𝐴 Trong đó: ROA: tỷ lệ lợi nhuận bình quân trên tổng tài sản EQA: vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản.
Một ngân hàng có thể vỡ nợ nếu khoản dự trữ vốn của họ được sử dụng hết do thua lỗ. Điều này nghĩa là khi một ngân hàng có lợi nhuận âm đủ lớn, khiến [ROA + E/A] <0, thì ngân hàng đó sẽ ngừng hoạt động. Do đó, giá trị của Zscore cho biết được khoảng cách với rủi ro. Zscore cao hơn có nghĩa là ổn định hơn.
Bên cạnh đó, chỉ số này đồng thời xem 2 xét cả ba khía 2 cạnh quan trọng trong đánh giá hiệu suất hoạt động ngân hàng, bao gồm an toàn vốn (thông qua tỷ lệ vốn chủ sở hữu), lợi nhuận (thông qua ROA) và rủi ro (thông qua độ lệch chuẩn của ROA - mức độ dao động của lợi nhuận). Ngoài Zscore, một số nghiên cứu còn sử dụng chỉ số đo lường hiện tượng tháo chạy khỏi ngân hàng (bank run) của người gửi tiền được đề xuất bởi Ngalawa, Tchana & Viegi (2016), xây dựng dựa trên ý tưởng của Eichengreen, Rose & Wyplosz (1994, 1996) và Hagen & Ho, (2007). Nhóm tác giả tiến hành đo lường sự ổn định của hệ thống ngân hàng bằng cách tạo dựng thước đo cho sự rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng (runt) thông qua tỷ lệ tăng trưởng của tiền gửi không kỳ hạn (DDt) và có kỳ hạn(TDt). Bao gồm hai bước: Bước 1: Tính tốc độ thay đổi của tiền gửi không kỳ hạn (grDDt) và tiền gửi có kỳ hạn (grTDt).
Bước 2: Tính chỉ số đo lường sự “tháo chạy” khỏi ngân hàng. Chỉ số tháo chạy khỏi ngân hàng: ( 𝑔𝑟_𝐷𝐷𝑡 − 𝑔𝑟_𝐷𝐷 𝑔𝑟_𝑇𝐷𝑡 − 𝑔𝑟_𝑇𝐷 ) 𝜎𝑔𝑟 )( + 𝜎𝑔𝑟 𝑟𝑢𝑛𝑡 = 2 𝐷𝐷 𝑇𝐷𝑡 Hiện tượng tháo chạy khỏi ngân hàng tức là sự giảm sút một cách đột ngột của tiền gửi ngân hàng, vậy nên càng khiến cho hệ số runt này càng thấp hơn.