đặt vấn đề, tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu để xác định đƣợc mục tiêu chung và mục tiêu nghiên cứu cụ thể, từ đó đƣa ra các câu hỏi nghiên cứu tƣơng ứng, cùng đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Đồng thời xác định phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong đề tài và trình bày ý nghĩa và đóng góp của đề tài. Cuối cùng là đƣa ra bố cục tổng thể của đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu Chƣơng 2 này sẽ trình bày về các lý thuyết nền và các phƣơng pháp đo lƣờng của RRTK và KNSL của NH.
Tiếp đến, tác giả lƣợc khảo các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến tác động của RRTK đến KNSL của các NHTM. Chƣơng 3: Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu Trên cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm đã trình bày ở chƣơng 2, chƣơng 3 này trình bày quy trình nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, phƣơng pháp phân tích dữ liệu. Sau đó, để đo lƣờng tác động của của RRTK đến KNSL của các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2022, khóa luận sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu và đề xuất các giả thuyết về các biến nội tại và các biến vĩ mô phù hợp với mục tiêu, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu đã đề ra. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng này sẽ trình bày về kết quả nghiên cứu của các phân tích và kiểm định các tác động của RRTK đến KNSL của NH.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả tiến hành so sánh và thảo luận về các biến nghiên cứu theo kết quả có đối chiếu với các nghiên cứu trƣớc. Chƣơng 5: Kết luận và một số hàm ý quản trị Từ cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu đã có ở chƣơng 4, chƣơng 5 này sẽ tổng hợp kết quả nghiên cứu và đề xuất các hàm ý quản trị về RRTK nhằm đảm bảo KNSL của các NHTMCP Việt Nam. Sau khi đã hoàn thành nghiên cứu, tác giả trình bày những hạn chế của nghiên cứu và đƣa ra những định hƣớng nghiên cứu mới cho những nghiên cứu tiếp theo hoàn thiện hơn. 9 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Chƣơng 1 đã chỉ ra tầm quan trọng cũng nhƣ tính cấp thiết của việc phân tích tác động của RRTK đến KNSL của các NHTMCP Việt Nam.
Từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát, đề tài đƣa ra 02 mục tiêu nghiên cứu cụ thể và sẽ đƣợc giải quyết thông qua 02 câu hỏi nghiên cứu tƣơng ứng. Tiếp theo, đề tài trình bày đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu là 26 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ 2013 – 2022. Đề tài nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu hỗn hợp và phƣơng pháp chính là nghiên cứu định lƣợng, dựa trên nền tảng kế thừa và mở rộng các nghiên cứu trƣớc đó để xác định tác động của RRTK đến KNSL của NH. Phần cuối là trình bày bố cục của khóa luận gồm 05 chƣơng và sơ lƣợc về nội dung chính của mỗi chƣơng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chƣơng này sẽ đề cập đến cơ sở lý luận nhƣ các khái niệm, phƣơng pháp đo lƣờng RRTK và KNSL của NH. Tiếp đó là lƣợc khảo các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nƣớc về tác động của RRTK đến KNSL của các NHTM. Rủi ro thanh khoản 2. Khái niệm về thanh khoản T y vào từng thời điểm và quan điểm của nhà nghiên cứu, có nhiều định nghĩa khác nhau về thanh khoản của NH.
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) định nghĩa tính thanh khoản là khả năng của một NH tài trợ cho việc tăng tài sản và thanh toán các khoản nợ của NH khi chúng đến hạn mà không gặp phải các tổn thất vượt quá mức. Theo Duttweiler (2009), tính thanh khoản cho thấy khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán khi chúng đến hạn. Tính thanh khoản chỉ đề cập đến đến dòng tiền, bởi vì nó là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt. Việc không đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán sẽ khiến cho khả năng thanh khoản bị giảm.
Ở góc độ NH, tính thanh khoản đề cập đến việc NH có thể thực hiện đúng hẹn và đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh, bao gồm việc thanh toán, cho vay, chi trả tiền gửi, và các giao dịch tài chính khác. Trư ng Quang Thông (2013) cho rằng: "Thanh khoản có nghĩa là khả năng chuyển đổi một cách nhanh chóng từ tài sản sang tiền mặt và với chi phí thấp nhất có thể. Nếu xét từ cả hai phía tài sản và nguồn vốn, thanh khoản bao gồm khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với mức chi phí thấp để đáp ứng các nhu cầu đa dạng khác nhau của NH. Tài sản được coi là có tính thanh khoản cao nếu chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi nhanh, và nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao nếu chi phí huy động thấp và thời gian huy động ngắn." Do đó, dựa trên các định nghĩa trên, ta có thể giải thích tính thanh khoản của NH là khả năng NH giữ đủ tiền mặt để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán của mình một cách nhanh chóng.
Điều này bao gồm khả năng của NH để cung cấp ngay lập 11 tức tiền mặt, séc, rút tiền và các yêu cầu vay mới hợp pháp, đồng thời tuân thủ các tiêu chí về dự trữ hiện có. Khái niệm về rủi ro thanh khoản Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2003), RRTK đề cập đến khả năng một NH không thể gia tăng quỹ trong tài sản hoặc nghĩa vụ nợ với mức chi phí thấp nhất có thể. Theo Duttweiler (2009), nếu NH phải tốn chi phí cao khi huy động các nguồn vốn để giải quyết các yêu cầu thanh khoản, hoặc NH không thể đáp ứng các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ hoạt động kinh doanh một cách kịp thời và đầy đủ sẽ khiến cho khả năng thanh khoản của NH bị giảm, khi tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến RRTK. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) nhận định rằng: "RRTK là khả năng ngân hàng không thực hiện đúng hạn các nghĩa vụ tài chính hoặc phải tốn chi phí cao để huy động vốn bổ sung hoặc bán tài sản với mức giá thấp.
Nếu RRTK xảy ra nghiêm trọng thì điều này có thể dẫn đến các NH có thể bị đình trệ hoạt động, bị thua lỗ, mất uy tín và thậm chí là phá sản." Ủy ban Basel cũng đã phân RRTK thành hai loại: vốn và thị trường. RRTK làm tăng khả năng đổ vỡ thị trường và các cú sốc thanh khoản đối với các NH, dẫn đến tình trạng thanh khoản thị trường sụt giảm kéo dài, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế trong nước. Theo Eichberger và Summer (2005) và Đặng Văn Dân (2015) chỉ ra rằng, RRTK là rủi ro nguy hiểm nhất cho NH, nó ảnh hưởng không chỉ đến từng NH mà còn đến toàn hệ thống NH. RRTK có thể lan rộng với mức độ tác động lớn đến các NH khác khi một NH gặp phải RRTK.
Từ những định nghĩa trên, RRTK là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp NH không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó. Khi rủi ro này xảy ra không chỉ ảnh hưởng xấu đến cả thu nhập và nguồn vốn của một NH mà còn lan truyền đến các NH khác. Vì vậy, để đảm bảo khả năng thanh toán trong 12 tư ng lai với mức chi phí hợp lý, RRTK trở thành một ưu tiên hàng đầu của các NH, với mục tiêu kiểm soát RRTK, cũng như đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế. Nguyên nhân phát sinh rủi ro thanh khoản Theo Duttweiler (2009), một trong các nguyên nhân chính gây ra RRTK là sự không ph hợp giữa thời hạn của tài sản và nghĩa vụ trả nợ trong NH.
Điều này có nghĩa là NH huy động và vay vốn ngắn hạn, trong khi cho vay và cấp tín dụng dài hạn. Sự không cân đối giữa thời hạn của tài sản và nợ phải trả dẫn đến sự mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, và đây là một trong những nguyên nhân gây mất khả năng thanh khoản. Rose (2008), RRTK xuất phát từ những nguyên nhân sau: Thứ nhất, các NH huy động một lượng lớn tiền gửi và dự trữ ngắn hạn từ các cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức cho vay khác, sau đó chuyển chúng thành hạn mức tín dụng dài cho người đi vay. Điều này làm mất khả năng thanh khoản do sự mất cân đối kỳ hạn giữa tài sản và nợ phải trả dẫn đến mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn.
Thứ hai, mức độ nhạy cảm của NH đối với những thay đổi của lãi suất. Đồng thời, người đi vay có xu hướng tăng khả năng tiếp cận tín dụng mà NH cung cấp vì lãi suất thấp h n so với các nguồn vốn bên ngoài thị trường. Những thay đổi về lãi suất ảnh hưởng đến cả nhu cầu của người gửi tiền và nhu cầu đi vay, và cả hai đều có tác động to lớn đến vị thế thanh khoản của NH. Thứ ba, c cấu khách hàng chưa hợp lý cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NH.
Khi các NH chỉ tập trung huy động khách hàng cá nhân hoặc các công ty lớn sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản cho NH khi các khách hàng này không trả được nợ đúng hạn hoặc rút tiền bất ngờ. Thứ tƣ, chiến lược quản lý thanh khoản của NH không ph hợp và kém hiệu quả. Do NH có cấu trúc vốn chưa hợp lý vì tỷ trọng huy động vốn còn thấp trong khi đó tỷ trọng vay mượn trên thị trường liên NH cao h n; Hoặc do NH tăng tài sản mà không phân bổ sử dụng tài sản một cách hợp lý, không có đủ dự trữ để đáp ứng 13 nhu cầu của khách hàng, hoặc các tài sản của NH có mức thanh khoản thấp không đảm bảo thanh khoản. Đo lƣờng rủi ro thanh khoản 2.
Đo lƣờng RRTK dựa vào các chỉ số thanh khoản Các chỉ số thanh khoản được sử dụng để đo lường về khả năng thanh khoản của NH trong việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng và hiệu quả. Khi các chỉ số thanh khoản giảm, điều này cho thấy NH đang gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu thanh toán và nhu cầu rút tiền mặt từ khách hàng, điều này đồng nghĩa với việc rủi ro về thanh khoản đang gia tăng.