Chương 1 của khóa luận trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Chương này cũng giới thiệu về phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài nghiên cứu để đạt được mục tiêu ban đầu mà nghiên cứu đã đặt ra, từ đó chỉ ra được ý nghĩa và đóng góp của đề tài mang lại cho hệ thống NH nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan 7 Chương 2 trình bày nội dung các lý thuyết cơ bản về RRTD, HQHĐ và tác động của RRTD đến HQHĐ của NH. Bên cạnh đó, tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trong nước và ngoài nước để tìm hiểu mối quan hệ của RRTD và HQHĐ.
Những kết quả này được sử dụng để làm nền tảng xây dựng mô hình nghiên cứu của bài nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 thể hiện tiến trình nghiên cứu và dựa vào cơ sở lý thuyết được trình bày ở Chương 2 cũng như kế thừa từ các công trình nghiên cứu trước, tác giả đề xuất ra mô hình nghiên cứu. Đồng thời, tác giả còn trình bày cách thu thập dữ liệu, giải thích cách lựa chọn các biến trong mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4 của khóa luận thực hiện phân tích dữ liệu dựa trên mô hình đã được đề xuất trong Chương 3.
Thông tin được lấy từ 26 NHTMCP Việt Nam để tiến hành các bước kiểm định cơ bản và ước lượng các biến thông qua phần mềm Stata 16. Sau đó, tác giả thảo luận về kết quả thu được từ nghiên cứu và so sánh với các giả thuyết đã đưa ra ở Chương 3. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương 5 đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài và đưa ra những gợi ý, khuyến nghị, gợi ý cho các NHTMCP Việt Nam cũng như NHNN nhằm giảm ảnh hưởng của RRTD đến HQHĐ của NH. Ngoài ra, chương này còn nêu lên những hạn chế của đề tài nghiên cứu và hướng nghiên cứu mở rộng sau này.
TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản của khóa luận và đề cập những vấn đề về tác động của RRTD đến HQHĐ đã xảy ra trên thế giới và ở Việt Nam. Tác giả đã làm rõ mục tiêu nghiên cứu và giải quyết vấn đề đặt ra 8 thông qua việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả cũng xác định đối tượng của nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu liên quan đến thời gian và không gian. Sau đó, trình bày tóm tắt nguồn dữ liệu và phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu thông qua mô hình hồi quy bằng phương pháp GMM và khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Kết thúc chương này, tác giả đã trình bày một cách khái quát về cấu trúc của đề tài bao gồm 5 chương nội dung. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Tổng quan về rủi ro tín dụng của các ngân hàng 2. Khái niệm về rủi ro tín dụng của các ngân hàng Có rất nhiều khái niệm khác nhau về RRTD, cụ thể như theo định nghĩa của Ủy ban giám sát Basel thì RRTD xảy ra khi khách hàng vay hoặc một bên đối tác của NH không thể hoàn thành các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận với NH.
Còn theo Yurdakul (2014) đưa ra khái niệm về RRTD là khả năng xảy ra tổn thất của NH khi khách hàng đi vay không có khả năng trả nợ đúng hạn hoặc không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng với NH. Tại Việt Nam, theo quan điểm của NHNN Việt Nam, RRTD trong hoạt động NH của TCTD là khả năng gây tổn thất trong hoạt động NH của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Ngoài ra, Phan Thị Thu Hà (2007) định nghĩa RRTD là những tổn thất ngoài dự kiến có thể xảy ra đối với NH vì lý do khách hàng không trả đúng hạn vay, hoặc không trả cho NH đầy đủ vốn và lãi. Dựa vào các quan điểm trên, tác giả đưa ra nhận định rằng RRTD là một loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, do khách hàng vay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc không trả nợ đúng hạn như đã cam kết trong hợp đồng vay.
RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong HĐKD của NH và có thể gây ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như HQHĐ của NH. Chỉ tiêu đo lƣờng rủi ro tín dụng của các ngân hàng Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu các chỉ tiêu dùng để đánh giá RRTD, cụ thể như Kargi (2011) đã sử dụng NPLR và tỷ lệ giữa tổng dư nợ chia cho tổng vốn huy động để đo lường mức độ tác động của RRTD. Samuel (2012) thì lại dựa vào NPLR và tỷ lệ lợi nhuận trước dự phòng trên tổng dư nợ. Như vậy, từ những trích dẫn trên có thể thấy rằng có rất nhiều cách để đánh giá, đo lường RRTD.
Việc lựa chọn chỉ tiêu, phương pháp nào để đánh giá RRTD phụ thuộc vào đặc điểm của các NH tại các quốc gia trong từng giai đoạn, đặc điểm của nền kinh tế của quốc gia và quan điểm của mỗi nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, trong phạm vi của nghiên cứu này, chỉ dùng hai chỉ tiêu là NPLR và tỷ lệ dự phòng RRTD để đánh giá bởi vì hai chỉ tiêu này được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam lựa chọn để đại diện cho RRTD. Tỷ lệ nợ xấu (Non – Performing Loan Ratio – NPLR) Dựa vào các nghiên cứu của Salas và Saurina (2002), Das và Ghosh (2007), Phạm Hữu Hồng Thái (2014) thì RRTD của các NH có thể được đo lường thông qua NPLR. Trong các lý thuyết cũng như các nghiên cứu trên thế giới, có nhiều cách định nghĩa về nợ xấu.
Theo định nghĩa của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ xấu là khoản vay khi quá hạn thanh toán gốc và/hoặc lãi từ 90 ngày trở lên; hoặc các khoản mà khách hàng phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng rằng khách hàng không thể trả nợ đầy đủ. Còn theo Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) thì một khoản nợ được coi là nợ xấu khi nó thỏa một trong hai hoặc cả hai tiêu chí sau: NH nhận thấy rằng khách hàng không có khả năng để trả đầy đủ nợ cho NH hoặc khoản nợ mà khách hàng đi vay đã quá hạn trả nợ hơn 90 ngày. NPLR được xác định tại từng thời điểm theo công thức sau 10 NHTM có NPLR càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp, càng có nguy cơ RRTD tăng nhanh do không thể thu hồi được nợ vay, từ đó ảnh hưởng đến HQHĐ của NH. Bên cạnh đó, nợ xấu còn là một trong những nguyên nhân chính gây cản trở sự tăng trưởng kinh tế vì mỗi khoản cho vay bị suy giảm trong lĩnh vực tài chính sẽ gây khó khăn cho công ty và mất khả năng sinh lời (Hou, 2007).
Theo Ngân hàng thế giới, NPLR ở dưới mức 5% là có thể chấp nhận được. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (Loan Loss Provision Ratio – LLPR) Theo Ashour (2011), dự phòng RRTD là các khoản chi phí được trích trước và tính vào CPHĐ của NH nhằm bù đắp cho những tổn thất khi mà các khoản cho vay không thể thu hồi được. Dự phòng RRTD được ghi nhận vào CPHĐ của NH và có tác động trực tiếp đến lợi nhuận của NH. Trích lập dự phòng là một phương thức kiểm soát các tổn thất tín dụng, giúp phát hiện và bù đắp RRTD.
Dự phòng rủi ro được tính trên số dư nợ gốc của khách hàng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ theo tỷ lệ cụ thể. Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng. Fisher và cộng sự (2000) đã chỉ ra rằng dự phòng RRTD có mối quan hệ đồng biến với NPLR.
Do đó, khi mức độ dự phòng RRTD tăng thì chất lượng khoản vay sẽ giảm và làm cho RRTD tăng. Từ đó, thước đo này trở nên phổ biến và được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu liên quan đến RRTD. Công thức tính tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD được xác định như sau Khi NH có LLPR cao nghĩa là NH đang có các khoản nợ xấu và có khả năng chuyển thành các khoản nợ mất vốn. Bên cạnh đó, Hasan và Wall (2003) cho rằng 11 khi LLPR càng tăng thì điều này cho thấy mức độ RRTD của NH đang ở mức cao và có nguy cơ mất vốn.
Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Có nhiều quan điểm khác nhau về HQHĐ của NHTM, cụ thể theo như NH Trung Ương Châu Âu (ECB) (2010), HQHĐ đươc định nghĩa là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai bằng cách đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại. Còn theo Berger và Mester (1997) cho rằng HQHĐ của các NHTM được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa doanh thu đầu ra và chi phí sử dụng nguồn lực đầu vào hay chính là khả năng chuyển đổi các nguồn lực đầu vào thành các đầu ra tốt nhất trong HĐKD của các NHTM.
Tại Việt Nam, Trương Quang Thông (2012) có quan điểm rằng dưới góc độ kinh doanh của NH, HQHĐ có thể được đánh giá dựa trên lợi nhuận thu được từ HĐKD của NH trong một khoảng thời gian nhất định. Bên cạnh đó, Nguyễn Khắc Minh (2004) cho rằng HQHĐ trong kinh tế định nghĩa là thành tựu của các nhà sản xuất hoặc NH trong cấp phát các nguồn lực đầu vào một cách tối đa hóa để đạt được đầu ra tốt nhất. Từ những định nghĩa trên có thể rút ra được rằng HQHĐ của NHTM trong kinh doanh là việc có thể tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận đạt được. Đó là mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng.