phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của đề tài gồm 05 chƣơng: Chƣơng 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị 8 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Chƣơng 1 đã nêu ra tính cấp bách của đề tài trong việc xác định các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của NHTM trong giai đoạn 2012-2021. Tác giả đã đƣa ra mục tiêu nghiên cứu cùng với việc hình thành câu hỏi nghiên cứu về các nhân tố nào tác đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Kèm theo đó là những giải pháp nào đề xuất giúp nâng cao khả năng sinh lời cho các NHTM Việt Nam niêm yết trên sàn chứng khoán 9 10 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Khái niệm khả năng sinh lời của các ngân hàng thƣơng mại Dusica Stevcevska Srbinoska ( 2018 ) định nghĩa khả năng sinh lời là khả năng của một thực thể tạo ra lợi ích tài chính hoặc doanh thu vƣợt quá chi phí. Harward và Upton (1961) định nghĩa khả năng sinh lời là khả năng nhận đƣợc lợi tức đầu tƣ Khả năng sinh lời theo cách nói của Onyam, Usang và Enyisi (2015) có nghĩa là “khả năng tạo ra lợi nhuận từ tất cả các hoạt động kinh doanh của một tổ chức, công ty, hãng hoặc doanh nghiệp” Khả năng sinh lời của ngân hàng đƣợc Rose (2002) định nghĩa là thu nhập ròng sau thuế hoặc thu nhập ròng của ngân hàng (thƣờng chia cho thƣớc đo quy mô ngân hàng) Từ những phân tích ở trên, khả năng sinh lời là khả năng tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh đƣợc thực hiện bởi một tổ chức hoặc công ty trong một khoảng thời gian nhất định 2.2 Các lý thuyết nền tảng Lý thuyết sức mạnh thị trƣờng Lý thuyết sức mạnh thị trƣờng bao gồm hai giả thuyết: Giả thuyết cấu trúc-hành vi-hiệu suất (SCP) và các giả thuyết về sức mạnh thị trƣờng tƣơng đối (RMP).
Giả thuyết Cấu trúc-Hành vi-Hiệu suất (SCP): Các thị trƣờng đƣợc đặc trƣng bởi một cấu trúc có tƣơng đối ít công ty và rào cản gia nhập cao sẽ tiến hành định giá nhằm đạt đƣợc tối đa hóa lợi nhuận chung thông qua thông đồng, dẫn đầu về giá hoặc các thỏa thuận định giá ngầm khác. Loại hành vi giá này sẽ mang lại lợi nhuận và giá cao hơn mức cạnh tranh. Nói một cách ngắn ngọn, các thị trƣờng tập trung cao hơn dẫn đến lãi suất cho vay tại các ngân hàng cao hơn và lãi suất tiền gửi thấp hơn do cạnh tranh giảm đi. Để sử dụng mô hình này để phân tích thị trƣờng ngân hàng, Neuberger và Doris (1997) tích hợp sự không hoàn hảo của thị trƣờng (sự không chắc chắn, thông tin bất cân xứng và chi phí) vào các điều kiện cơ bản.
Giả thuyết sức mạnh thị trƣờng tƣơng đối (RMP): lập luận rằng chỉ những công ty lớn với một số “nhận dạng thƣơng hiệu” mới có thể tác động đến việc định giá và tăng khả 1 năng sinh lời. Hay nói cách khác, hiệu quả và sự khác biệt về sản phẩm của các công ty là yếu tố chính quyết định sức mạnh thị trƣờng và khả năng sinh lời. Chỉ những công ty có thị phần lớn và các sản phẩm có thể sử dụng sức mạnh thị trƣờng và kiếm đƣợc siêu lợi nhuận (Shepherd 1982) Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (EFS) Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (EFS) bao gồm hai giả thuyết – giả thuyết hiệu quả X và hiệu quả quy mô. Giả thuyết này cho rằng sự cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng gây áp lực buộc các ngân hàng phải trở nên lớn hơn và hiệu quả hơn.
Mục tiêu chính của các ngân hàng trong môi trƣờng cạnh tranh là giành đƣợc tỷ lệ thị phần lớn hơn và kiếm đƣợc lợi nhuận cao hơn (Homma et al. Theo đó, điều này dẫn đến khả năng sinh lời của ngân hàng cao hơn. Nói cách khác, giả thuyết này khẳng định rằng tác động đáng kể của cạnh tranh đến lợi nhuận của ngân hàng không phát sinh từ sức mạnh thị trƣờng mà từ mức độ hiệu quả cao hơn của các ngân hàng có tỷ lệ thị phần lớn hơn (Demsetz, 1973) Thông qua các lý thuyết đƣợc đề cập trên, lý thuyết MP cho rằng khả năng sinh lời của ngân hàng là một hàm theo các yếu tố thị trƣờng có nghĩa là các yếu tố bên ngoài,trong khi lý thuyết ES lại cho rằng khả năng sinh lời của ngân hàng chịu tác động của các yếu tố bên trong ( Cao Thị Thu Thủy, 2021 ). Vì vậy, dựa trên nền nảng các lý thuyết đó , các tác giả đã đề xuất các hàm vào mô hình đo lƣờng khả năng sinh lời của các ngân hàng.2 Các chỉ tiêu đo lƣờng về khả năng sinh lời Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Theo Rose (2002), yỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) đƣợc định nghĩa là thu nhập ròng chia cho tổng tài sản.
ROA là một tỷ lệ tài chính toàn diện để đo lƣờng hiệu suất sinh lời của các ngân hàng. ROA cho chúng ta biết có bao nhiêu thu nhập mà ban quản lý có thể tạo ra từ tài sản. Do đó, ROA có thể đƣợc sử dụng để chỉ ra hiệu quả quản lý ngân hàng trong việc chuyển đổi tài sản thành doanh thu (Goddard và cộng sự, 2004). Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) của ngân hàng càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận mà ngân hàng thực hiện càng cao và vị thế của ngân hàng về hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt (Sutrisno, 2018).
ROA= 2 Lợi nhuận trên vốn chủ sỡ hữu (ROE) Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là đƣợc định nghĩa là tỷ lệ thu nhập ròng trên vốn chủ sở hữu của cổ đông. Điều này có thể hiểu đƣợc rằng ngân hàng có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đơn vị tiền tệ đầu tƣ vào vốn chủ sở hữu. ROE rất quan trọng để tính toán xem ban lãnh đạo ngân hàng đang sử dụng tiền của cổ đông nhƣ thế nào. ROE cao điều đó ngụ ý rằng ban quản lý hiệu quả trong việc quản lý quỹ cổ đông và tạo ra doanh thu cho cổ đông.
Các cổ đông đƣợc hƣởng lợi từ việc đầu tƣ vốn của mình cho ngân hàng. (Ong Tze San và cộng sự , 2012) ROE = Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) là tỷ lệ thu nhập lãi ròng trên tài sản sinh lãi trung bình, trong đó thu nhập lãi ròng là thu nhập nhận đƣợc trừ đi thu nhập đƣợc trả. NIM là một chỉ số tiêu chuẩn cho thấy ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình hiệu quả nhƣ thế nào để tạo ra doanh thu. NIM tốt cho thấy lợi suất cho vay tốt, tỷ lệ chi phí thấp hơn và sử dụng hiệu quả các tài sản sinh lãi và sự kết hợp hợp lý giữa các khoản nợ chịu lãi suất.
Điểm yếu của chỉ số này là thực tế là khi các ngân hàng chuyển sang các hoạt động tạo ra nhiều phí hơn, tỷ lệ NIM sẽ giảm tầm quan trọng nhƣ một thƣớc đo khả năng sinh lời của tài sản (Grier, 2012).3 Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của NHTM Chính sách bất định về kinh tế (EPU) Sự bất định về kinh tế có nhiều tác động đối với sự an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 đã làm dấy lên những lo ngại đáng kể về việc liệu các ngân hàng có động cơ thích hợp để quản lý hiệu quả rủi ro của họ vì lợi ích cao nhất của ngƣời gửi tiền và nhà đầu tƣ hay không (Altunbas và cộng sự, 2011) Trong thời kỳ chính sách bất định về kinh tế, lợi nhuận của tài sản giảm và chi phí tài trợ bên ngoài tăng lên. Ngân hàng có thể tăng dự trữ tiền mặt để tạo rào cản chống lại các cú sốc tài chính, mà cuối cùng sẽ làm giảm khả năng sinh lời (ví dụ: Brogaard & Detzel, 2015; Gilchrist và cộng sự, 2014; Pástor & Veronesi, 2013). Các nghiên cứu lập luận rằng các ngân hàng thích trì hoãn đầu tƣ trong thời kỳ bất ổn chính sách kinh tế cao.
Hơn nữa, chi phí tài trợ bên ngoài tăng lên do sự không chắc chắn của chính sách, làm suy yếu các hạn chế tài chính(Gilchrist và cộng sự, 2014; Gulen & Ion, 3 2016; Nguyen & Phan, 2017; Pástor & Veronesi, 2013). Sự bất định này tác động trực tiếp đến nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp và hộ gia đình đối với các ngân hàng. Nó làm giảm đáng kể cho vay ngân hàng (Bordo và cộng sự, 2016; Hu và Gong, 2019; Nguyen và cộng sự, 2020), làm xói mòn khả năng sinh lời, ảnh hƣởng xấu đến giá cổ phiếu và giảm giá trị ngân hàng (He và Niu, 2018). Nợ xấu (NPL) Nợ xấu (NPL) là một vấn đề lớn trong ngành ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu gây ra mối nguy hiểm lớn không chỉ đối với hệ thống an ninh tiền tệ nói chung của quốc gia mà còn đối với sự ổn định tài chính của các ngân hàng thƣơng mại. Các ngân hàng thƣơng mại sẽ thiệt hại đáng kể về vốn khi nợ xấu tăng cao vƣợt ngƣỡng cho phép (khoảng 5%). Điều này có tác động đến dòng tiền và các ngân hàng sẽ trở nên kém thanh khoản hơn, có thể khiến khả năng sinh lời và khả năng tồn tại lâu dài của họ gặp nguy hiểm. Khi số lƣợng nợ xấu tăng có thể ảnh hƣởng đến thu nhập ngân hàng và làm giảm hiệu quả của hệ thống ngân hàng (My, 2020) Tỷ lệ vốn chủ sỡ hữu trên tổng tài sản (CAP) Đo lƣờng bằng tỷ lệ phần trăm vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản.
Đó là một tỷ lệ thiết yếu quyết định sức mạnh vốn (Abel & Roux, Citation2016; Anbar & Alper, Citation2011; Masood & Ashraf, Citation2012). Vốn là thƣớc đo khả năng của một tổ chức tài chính trong việc duy trì hoạt động hoặc sức mạnh hoặc sự lành mạnh về tài chính. Khái niệm vốn đƣợc sử dụng để bảo vệ, đảm bảo và thúc đẩy tính hiệu quả và ổn định của hệ thống tài chính. Nó cũng phục vụ để cho thấy liệu một ngân hàng có đủ vốn để duy trì các khoản lỗ do các sự kiện không lƣờng trƣớc đƣợc hay không.
Khả năng tiếp nhận hoạt động kinh doanh mới của một ngân hàng cũng đƣợc biểu thị bằng khối lƣợng vốn (Tanveer, 2004).